Luận án tiến sĩ triết học biện chứng về tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Tổng hợp kiến thức Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: ..., tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả trong chuyên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ triết học

2008

219
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỤC LỤC

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Tình hình nghiên cứu đề tài

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

1.6. Cái mới về mặt khoa học của Luận án

1.7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

1.8. Kết cấu của Luận án

2. CƠ SỞ HÌNH THÀNH BIỆN CHỨNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

2.1. Tiếp thu, vận dụng các phương pháp tư duy biện chứng

2.2. Cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh

3. BIỆN CHỨNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC THEO CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN Ở VIỆT NAM

3.1. Hồ Chí Minh tiếp thu Luận cương của Lênin, lựa chọn con đường cách mạng vô sản

3.2. Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam

3.3. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam

4. BIỆN CHỨNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ NHÂN DÂN ĐỂ TIẾN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

4.1. Quá trình hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam

4.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính tất yếu của việc xây dựng chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam

4.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

5. DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

6. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Đề tài 'Biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam' mang tính cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò của Hồ Chí Minhchủ nghĩa Mác - Lênin trong việc xây dựng đất nước. Tư tưởng của Hồ Chí Minh không chỉ là tài sản tinh thần mà còn là kim chỉ nam cho hành động. Việc nghiên cứu tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ quan trọng, nhằm làm rõ nội dung và giá trị của tư tưởng này trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn phải được triển khai trong thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi mà Đổi mới đang diễn ra mạnh mẽ.

II. Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đã được thực hiện qua nhiều công trình khác nhau. Các công trình này có thể chia thành ba nhóm chính: Thứ nhất, những công trình nghiên cứu trực tiếp về tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, như của PGS. Phạm Ngọc Anh và GS. Hoàng Chí Bảo. Thứ hai, các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thứ ba, các công trình nghiên cứu văn bản học liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu vào biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội theo cách tiếp cận triết học, điều này cho thấy sự cần thiết của đề tài nghiên cứu này.

III. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu là làm rõ biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, từ đó khẳng định giá trị của tư tưởng này trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: nghiên cứu cơ sở hình thành biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh; phân tích vòng khâu tư tưởng về giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản; nghiên cứu vòng khâu tư tưởng về xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để tiến lên chủ nghĩa xã hội; và phân tích một số quan điểm mang tính biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Những nhiệm vụ này sẽ giúp làm rõ hơn nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay.

IV. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứngchủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng với quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư tưởng Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu bao gồm tổng hợp các phương pháp như phương pháp kết hợp lịch sử - logic, phương pháp hệ thống - cấu trúc, và phương pháp phân tích. Phương pháp chủ yếu là phương pháp kết hợp lịch sử - logic, giúp làm rõ tính chất biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội. Việc áp dụng các phương pháp này sẽ giúp hiểu sâu sắc hơn về tư tưởng của Người và những giá trị thực tiễn của nó.

V. Cái mới về mặt khoa học của Luận án

Luận án khẳng định rằng biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được hình thành từ việc tiếp thu và vận dụng các phương pháp tư duy biện chứng. Luận án sẽ giải thích quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, từ giải phóng dân tộc đến xây dựng chế độ dân chủ nhân dân. Đồng thời, luận án cũng phân tích các quan điểm mang tính biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, như quan điểm về con đường giải phóng dân tộc và xây dựng chế độ dân chủ. Những đóng góp này sẽ làm phong phú thêm hiểu biết về tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị của nó trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu đã được công bố của tác giả liên quan đến đề tài Luận án và danh mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung gồm 3 chương, 9 tiết. B)°CR NỘI DUNG Chuong 1 CO SỬ HÌNH THÀNH BIEN CHUNG CUA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ứ VIỆT NAM 1. TIẾP THU, VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY BIỆN CHỨNG 1.

Nhân tố biện chứng trong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc Vị thế địa tự nhiên, địa chính trị, địa văn hóa đã quy định phương thức sống của người Việt và trên cơ sở ấy quy định nên phương pháp tư duy của người Việt. Trong phương pháp tư duy ấy chứa đựng nhiều nhân tố biện chứng. Đây là điều đã được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định. Chẳng hạn, GS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng loại hình văn hóa của dân tộc Việt Nam là trọng tĩnh (gốc nông nghiệp), trong đó đặc trưng về mặt nhận thức là kiểu tư duy tổng hợp.

Kiểu tư duy tổng hợp có những đặc điểm là chi quan (xem xét đối tượng bằng con mắt của chính mình), cảm tính (trực giác) và kinh nghiệm (kiểm tra tính chân thực của tri thức bằng sự trải nghiệm của chính mình), song bao trùm lên tất cả là tính biện chứng. Ông viết: “Tổng hợp kéo theo biện chứng - cái mà người nông nghiệp quan tâm không phải là tập hợp của các yếu tố riêng rẽ, mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng. Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn biện chứng là chú trọng đến mọi mối quan hệ giữa chúng - đó chính là đặc trưng tư duy của văn hóa gốc nông nghiệp trọng tĩnh mà nông nghiệp lúa nước là điển hình”[170, tr. Trong những cơ sở hình thành nên tư tưởng và phương pháp của Hồ Chí Minh, các giá trị tư tưởng, văn hóa của dân tộc có một vai trò quan trọng.

Đối với sự hình thành biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh, sự tiếp thu, vận dụng và phát triển các nhân tố biện chứng trong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc có một vai trò quan trọng. Để làm rõ vấn đề Hồ Chí Minh tiếp thu phương pháp tư duy truyền thống của dian tộc như thé nào, một trong những căn cứ quan trọng là dựa vào quan niệm và đánh giá của Hồ Chí Minh về phương pháp tư duy ấy. Hồ Chí Minh không bàn nhiều về 10 Đến tác phẩm Quang phục quân phương lược (1912), quan điểm của Phan Bội Châu về chế độ xã hội tương lai đã được xác định rõ trong một tông lộ trình cách mạng: “Tôn chỉ của Quang phục quân là đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam và thành lập nước Cộng hoà dân chu”[12, tr. Như vậy con đường cách mạng Việt Nam theo quan điểm của Cụ Phan là trước hết giải phóng dân tộc, sau đó kiến tạo chế độ xã hội mới, khởi đầu từ chế độ dân chủ cộng hoà.

Cụ Phan viết về chính thể dân chủ cộng hoà như sau: đó là “một chính thê rất tốt đẹp. Quyền bính của nước là của chung toàn dân do nhân dân quyết định. Những dấu vết độc hại của chính thể chuyên chế không còn nữa”[12, tr. Có thể nói, từ chỗ “chú trọng” vào chế độ quân chủ lập hiến, dù trong đó vua chỉ là hình thức, đến chỗ phê phán chế độ quân chủ, và đến “khuynh hướng” vào chế độ dân chủ cộng hoà, đó là một bước tiến dài trong tư tưởng của Cụ Phan Bội Châu.

Tư tưởng về xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà ở Việt Nam sau khi đánh đuôi thực dân Pháp của Cụ Phan là một tư tưởng hợp lý, đúng đắn. Điều đặc biệt, đến những năm cuối đời, Cụ Phan đã hướng cảm tình về chủ nghĩa Mác - Lénin, về chủ nghĩa xã hội. Từ tác phẩm Truyện Pham Hồng Thái đến tác phâm Xã hội chủ nghĩa, ta thay Cụ Phan đã có những nhận thức bước đầu về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, quan điểm của Cụ là, “không phải là tôi phản đối chủ nghĩa xã hội.

Những sách về chủ nghĩa xã hội tôi đã có đọc nhiều, đã nghiên cứu rat kỹ, tôi vẫn công nhận rằng những lý thuyết ấy rất chính đáng, nhưng chưa có thé thực hành ở xứ này được”[13, tr. Theo Cụ Phan, nhiệm vụ cấp bách của dân tộc Việt Nam là giải phóng dân tộc, đó là nhiệm vụ phải làm trước, giống như người đang đói bụng, phải ăn mâm cơm để trước cửa. Còn chủ nghĩa xã hội, tuy là mâm cơm ngon hơn, nhưng mâm cơm ấy để trong nhà, “muốn được ăn cái mâm cơm ở trong nhà thì phải ăn cho hết cái mâm cơm ở trước cửa đi đã, rồi mới có đường đi vào trong nhà, chúng ta đã không thèm để ý đến cái mâm cơm ở trước cửa, thì rút cục chúng ta chỉ đứng ngoài thêm chảy nước miếng cục”[13, tr. Quan điểm của Cụ Phan ở đây là rất rõ: Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội tốt đẹp, cần phải hướng tới, song trước hết phải giải phóng dân tộc, và sau khi giải phóng dân tộc, cần phải xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà trước khi xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tuy chưa thật rõ ràng, song Cụ 36 Khi nhận thức sự biến đổi của đối tượng, phương pháp tư duy truyền thống của người Việt Nam đã chú ý đến sự biến đổi cả về mặt chất và mặt lượng, và trong đó thường nhấn mạnh đến quá trình tích luỹ về lượng, từ tích luỹ về lượng đưa tới sự biến đổi về chat: “Có bột mới got nên hd”; “Một cây làm chang nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Phương pháp tư duy hướng tới nhận thức mối quan hệ và sự biến đổi của đối tượng đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh. Người ta thấy rat rõ dau ấn của phương pháp tư duy truyền thống trong một ấn dụ có tính khái quát lý luận rất cao của Hồ Chí Minh về cuộc khánh chiến chống thực dân Pháp: “Nay tuy châu chấu đấu voi, Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra”[109, tr. Ở đây, xu thế khách quan trong sự biến đổi về chất của hiện thực đã được Hồ Chí Minh nhận thức và sẽ từng bước hiện thực hoá thông qua quá trình tích luỹ về lượng dé đưa tới sự biến đôi về chất.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng đã thấy ra tính không triệt để trong phương pháp tư duy truyền thống ở chỗ nó chưa hướng tới sự phát triển mà mới dừng lại ở tính tuân hoàn: “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa”[105, tr. Hạn chế này là khó tránh khỏi do đặc điểm của nền sản xuất gắn liền với những biến đổi có tính tuần hoàn của tự nhiên và sự biến đổi chậm chap của đời sống xã hội do nền sản xuất ấy quy định, nhất là trong một chế độ xã hội mà ở đó người lao động không phải là người chủ thực sự của chính mình và của toàn xã hội. Thứ ba, phương pháp tư duy của người Việt Nam có đặc điểm là luôn hướng tới mục tiêu ngày càng tốt đẹp hơn. Hồ Chí Minh chi rõ: “Người châu A- tuy bị người pihương Tây coi là lạc hậu - vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết phải cải cách toàn bộ xã hội hiiện tại”[104, tr.

Tư duy hướng tới cái mới, cái tốt tuy chưa hin đã mang tính cách mạng, song rõ ràng là nó có tác dụng tích cực đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nihân, cũng như của toàn thé cộng đồng dân tộc. Đối với Hồ Chi Minh, việc phát hiện ra đặc điểm nói trên trong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc Việt Nam - 12 phương pháp tư duy thẻ hiện nhân sinh quan tiến bộ - có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là đối với việc xây dựng lý luận và tô chức hiện thực hoá con đường cách mạng đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là gì, theo quan niệm của Hồ Chí Minh, suy cho cùng đó là sự hiện thực hoá - hiện đại hoá những khát vọng ngàn đời của nhân dân Việt Nam về một xã hội tốt đẹp hơn. Thứ tư, phương pháp tư duy của người Việt Nam chú trọng tinh thực tế, tính hiệu quả.

Ngay từ sớm, Người đã chỉ rõ, đối với người Việt Nam “một tim gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[104, tr. Hồ Chí Minh đã nhiều lần lưu ý cán bộ Đảng, cán bộ Nhà nước rằng, người dân luôn quan tâm đến những gì giản dị, dễ hiểu, có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ, chứ không ưa những gi trừu tượng, khó hiểu, hoặc xa lạ. Chính vì thế, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng, nhân dân chỉ thực sự hiểu được giá trị của độc lập dân tộc, của chủ nghĩa xã hội khi các quyền lợi của họ được bảo đảm, đời sống vật chất và tinh thần của họ ngày càng được nâng cao. Có thể thấy rằng, những đặc điểm trên của phương pháp tư duy truyền thống có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và được hình thành nên trên cơ sở phương thức sống của người Việt Nam.

Với “năng lực quan sát thiên bam”, ngudi Viét Nam chu trong moi quan hé va tinh kha biến của tự nhiên, xã hội và con người. Từ chỗ nhận thức được tính khả biến của đối tượng, người Việt Nam hướng tới sự đổi mới, hướng tới cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn về cả vật chất lẫn tỉnh thần, và trong quá trình đó, tính thực té, tính hiệu quả được dé lên hàng đầu. Những đặc điểm cơ bản ấy tạo nên một đặc điểm chung mang tính chỉnh thé, đó là tinh biện chứng tự phát, trong đó vai trò của chủ thể được coi trọng. Tính biện chứng tự phát của tư duy truyền thống người Việt Nam tuy chịu ảnh hưởng của quan niệm vẻ tính tuần hoàn trong sự biến đôi của tự nhiên, xã hội và con người, song nói chung là tích cực và tiến bộ, nếu biết cách khai thác, phát huy vẫn sẽ có ích trong quá trình hiện đại hoá.

Tiếp thu, vận dụng các nhân tố biện chứng trong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc là một cơ sở hình thành biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ