phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu đã được công bố của tác giả liên quan đến đề tài Luận án và danh mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung gồm 3 chương, 9 tiết. B)°CR NỘI DUNG Chuong 1 CO SỬ HÌNH THÀNH BIEN CHUNG CUA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ứ VIỆT NAM 1. TIẾP THU, VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY BIỆN CHỨNG 1.
Nhân tố biện chứng trong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc Vị thế địa tự nhiên, địa chính trị, địa văn hóa đã quy định phương thức sống của người Việt và trên cơ sở ấy quy định nên phương pháp tư duy của người Việt. Trong phương pháp tư duy ấy chứa đựng nhiều nhân tố biện chứng. Đây là điều đã được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định. Chẳng hạn, GS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng loại hình văn hóa của dân tộc Việt Nam là trọng tĩnh (gốc nông nghiệp), trong đó đặc trưng về mặt nhận thức là kiểu tư duy tổng hợp.
Kiểu tư duy tổng hợp có những đặc điểm là chi quan (xem xét đối tượng bằng con mắt của chính mình), cảm tính (trực giác) và kinh nghiệm (kiểm tra tính chân thực của tri thức bằng sự trải nghiệm của chính mình), song bao trùm lên tất cả là tính biện chứng. Ông viết: “Tổng hợp kéo theo biện chứng - cái mà người nông nghiệp quan tâm không phải là tập hợp của các yếu tố riêng rẽ, mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng. Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn biện chứng là chú trọng đến mọi mối quan hệ giữa chúng - đó chính là đặc trưng tư duy của văn hóa gốc nông nghiệp trọng tĩnh mà nông nghiệp lúa nước là điển hình”[170, tr. Trong những cơ sở hình thành nên tư tưởng và phương pháp của Hồ Chí Minh, các giá trị tư tưởng, văn hóa của dân tộc có một vai trò quan trọng.
Đối với sự hình thành biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh, sự tiếp thu, vận dụng và phát triển các nhân tố biện chứng trong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc có một vai trò quan trọng. Để làm rõ vấn đề Hồ Chí Minh tiếp thu phương pháp tư duy truyền thống của dian tộc như thé nào, một trong những căn cứ quan trọng là dựa vào quan niệm và đánh giá của Hồ Chí Minh về phương pháp tư duy ấy. Hồ Chí Minh không bàn nhiều về 10 Đến tác phẩm Quang phục quân phương lược (1912), quan điểm của Phan Bội Châu về chế độ xã hội tương lai đã được xác định rõ trong một tông lộ trình cách mạng: “Tôn chỉ của Quang phục quân là đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam và thành lập nước Cộng hoà dân chu”[12, tr. Như vậy con đường cách mạng Việt Nam theo quan điểm của Cụ Phan là trước hết giải phóng dân tộc, sau đó kiến tạo chế độ xã hội mới, khởi đầu từ chế độ dân chủ cộng hoà.
Cụ Phan viết về chính thể dân chủ cộng hoà như sau: đó là “một chính thê rất tốt đẹp. Quyền bính của nước là của chung toàn dân do nhân dân quyết định. Những dấu vết độc hại của chính thể chuyên chế không còn nữa”[12, tr. Có thể nói, từ chỗ “chú trọng” vào chế độ quân chủ lập hiến, dù trong đó vua chỉ là hình thức, đến chỗ phê phán chế độ quân chủ, và đến “khuynh hướng” vào chế độ dân chủ cộng hoà, đó là một bước tiến dài trong tư tưởng của Cụ Phan Bội Châu.
Tư tưởng về xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà ở Việt Nam sau khi đánh đuôi thực dân Pháp của Cụ Phan là một tư tưởng hợp lý, đúng đắn. Điều đặc biệt, đến những năm cuối đời, Cụ Phan đã hướng cảm tình về chủ nghĩa Mác - Lénin, về chủ nghĩa xã hội. Từ tác phẩm Truyện Pham Hồng Thái đến tác phâm Xã hội chủ nghĩa, ta thay Cụ Phan đã có những nhận thức bước đầu về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, quan điểm của Cụ là, “không phải là tôi phản đối chủ nghĩa xã hội.
Những sách về chủ nghĩa xã hội tôi đã có đọc nhiều, đã nghiên cứu rat kỹ, tôi vẫn công nhận rằng những lý thuyết ấy rất chính đáng, nhưng chưa có thé thực hành ở xứ này được”[13, tr. Theo Cụ Phan, nhiệm vụ cấp bách của dân tộc Việt Nam là giải phóng dân tộc, đó là nhiệm vụ phải làm trước, giống như người đang đói bụng, phải ăn mâm cơm để trước cửa. Còn chủ nghĩa xã hội, tuy là mâm cơm ngon hơn, nhưng mâm cơm ấy để trong nhà, “muốn được ăn cái mâm cơm ở trong nhà thì phải ăn cho hết cái mâm cơm ở trước cửa đi đã, rồi mới có đường đi vào trong nhà, chúng ta đã không thèm để ý đến cái mâm cơm ở trước cửa, thì rút cục chúng ta chỉ đứng ngoài thêm chảy nước miếng cục”[13, tr. Quan điểm của Cụ Phan ở đây là rất rõ: Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội tốt đẹp, cần phải hướng tới, song trước hết phải giải phóng dân tộc, và sau khi giải phóng dân tộc, cần phải xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà trước khi xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tuy chưa thật rõ ràng, song Cụ 36 Khi nhận thức sự biến đổi của đối tượng, phương pháp tư duy truyền thống của người Việt Nam đã chú ý đến sự biến đổi cả về mặt chất và mặt lượng, và trong đó thường nhấn mạnh đến quá trình tích luỹ về lượng, từ tích luỹ về lượng đưa tới sự biến đổi về chat: “Có bột mới got nên hd”; “Một cây làm chang nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Phương pháp tư duy hướng tới nhận thức mối quan hệ và sự biến đổi của đối tượng đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh. Người ta thấy rat rõ dau ấn của phương pháp tư duy truyền thống trong một ấn dụ có tính khái quát lý luận rất cao của Hồ Chí Minh về cuộc khánh chiến chống thực dân Pháp: “Nay tuy châu chấu đấu voi, Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra”[109, tr. Ở đây, xu thế khách quan trong sự biến đổi về chất của hiện thực đã được Hồ Chí Minh nhận thức và sẽ từng bước hiện thực hoá thông qua quá trình tích luỹ về lượng dé đưa tới sự biến đôi về chất.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng đã thấy ra tính không triệt để trong phương pháp tư duy truyền thống ở chỗ nó chưa hướng tới sự phát triển mà mới dừng lại ở tính tuân hoàn: “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa”[105, tr. Hạn chế này là khó tránh khỏi do đặc điểm của nền sản xuất gắn liền với những biến đổi có tính tuần hoàn của tự nhiên và sự biến đổi chậm chap của đời sống xã hội do nền sản xuất ấy quy định, nhất là trong một chế độ xã hội mà ở đó người lao động không phải là người chủ thực sự của chính mình và của toàn xã hội. Thứ ba, phương pháp tư duy của người Việt Nam có đặc điểm là luôn hướng tới mục tiêu ngày càng tốt đẹp hơn. Hồ Chí Minh chi rõ: “Người châu A- tuy bị người pihương Tây coi là lạc hậu - vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết phải cải cách toàn bộ xã hội hiiện tại”[104, tr.
Tư duy hướng tới cái mới, cái tốt tuy chưa hin đã mang tính cách mạng, song rõ ràng là nó có tác dụng tích cực đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nihân, cũng như của toàn thé cộng đồng dân tộc. Đối với Hồ Chi Minh, việc phát hiện ra đặc điểm nói trên trong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc Việt Nam - 12 phương pháp tư duy thẻ hiện nhân sinh quan tiến bộ - có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là đối với việc xây dựng lý luận và tô chức hiện thực hoá con đường cách mạng đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là gì, theo quan niệm của Hồ Chí Minh, suy cho cùng đó là sự hiện thực hoá - hiện đại hoá những khát vọng ngàn đời của nhân dân Việt Nam về một xã hội tốt đẹp hơn. Thứ tư, phương pháp tư duy của người Việt Nam chú trọng tinh thực tế, tính hiệu quả.
Ngay từ sớm, Người đã chỉ rõ, đối với người Việt Nam “một tim gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[104, tr. Hồ Chí Minh đã nhiều lần lưu ý cán bộ Đảng, cán bộ Nhà nước rằng, người dân luôn quan tâm đến những gì giản dị, dễ hiểu, có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ, chứ không ưa những gi trừu tượng, khó hiểu, hoặc xa lạ. Chính vì thế, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng, nhân dân chỉ thực sự hiểu được giá trị của độc lập dân tộc, của chủ nghĩa xã hội khi các quyền lợi của họ được bảo đảm, đời sống vật chất và tinh thần của họ ngày càng được nâng cao. Có thể thấy rằng, những đặc điểm trên của phương pháp tư duy truyền thống có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và được hình thành nên trên cơ sở phương thức sống của người Việt Nam.
Với “năng lực quan sát thiên bam”, ngudi Viét Nam chu trong moi quan hé va tinh kha biến của tự nhiên, xã hội và con người. Từ chỗ nhận thức được tính khả biến của đối tượng, người Việt Nam hướng tới sự đổi mới, hướng tới cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn về cả vật chất lẫn tỉnh thần, và trong quá trình đó, tính thực té, tính hiệu quả được dé lên hàng đầu. Những đặc điểm cơ bản ấy tạo nên một đặc điểm chung mang tính chỉnh thé, đó là tinh biện chứng tự phát, trong đó vai trò của chủ thể được coi trọng. Tính biện chứng tự phát của tư duy truyền thống người Việt Nam tuy chịu ảnh hưởng của quan niệm vẻ tính tuần hoàn trong sự biến đôi của tự nhiên, xã hội và con người, song nói chung là tích cực và tiến bộ, nếu biết cách khai thác, phát huy vẫn sẽ có ích trong quá trình hiện đại hoá.
Tiếp thu, vận dụng các nhân tố biện chứng trong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc là một cơ sở hình thành biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.