Chương 1 MỘT VÀI NÉT VỀ TÁC PHẨM KINH DỊCH 1. Kinh Dịch - Nguồn gốc và phân loại 1. Kinh Dịch Kinh là quyển sách. Dịch là sự chuyển dịch, là sự biến đổi.
Hiểu một cách khái quát nhất thì "Kinh Dịch" là một quyển sách nói về các sự biến đổi trong toàn bộ thế giới. Chữ Dịch gồm có 3 nghĩa: Bất Dịch, Giao Dịch và Biến Dịch. - Bất Dịch: chẳng có gì thay đổi cả, âm dương trai gái gặp nhau mà không giao nhau thì chẳng có kết quả gì xảy ra. Càn vẫn là Càn, Khôn vẫn là Khôn.
- Giao Dịch: là sự trao đổi, thảo luận giữa các sự vật và hiện tượng: Càn giao Khôn thì ra Tốn, Ly, Đoài , Khôn giao Càn thì ra Chấn, Khảm, Cấn. - Biến Dịch: là kết quả của giao dịch. Do đó chữ Dịch bao gồm cả ba nghĩa, trong đó biến dịch là quan trọng nhất như trong triết học vẫn thường nói, vận động chính là phương thức của tồn tại, là thuộc tính cố hữu của vật chất. Ngoài ra, chữ Dịch còn có nhiều cách giải thích khác nhau như con thằn lằn thay đổi mầu sắc 12 lần trong một ngày, hoặc như sự dịch chuyển của mặt trời và mặt trăng,.
Nguồn gốc Kinh Dịch Khởi thủy là Phục Hy (2852 - 2737 tr.CN) còn gọi là Đào Hy, Thái Cao hay Thái Hạo tìm ra Hà Đồ khi trông thấy con long mã nổi lên trên sông Hoàng Hà, nhà vua ghi lại những chấm trên lưng con long mã giống như một bức đồ họa của sông Hoàng Hà, trên cơ sở đó, sau này Văn Vương đã xây dựng nên Hậu Thiên Bát Quái. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khoảng hơn 2000 năm sau, Vua Hạ Vũ (2205 - 2197 tr.CN) khi đi trị thủy trên sông Lạc tìm thấy trên lưng con rùa cũng có một bức đồ hình đặc biệt gọi là Lạc Thư. Từ đó, ông tìm ra nhiều ứng dụng, một trong ứng dụng quan trọng nhất là cửu trù hồng phạm. Hơn 1000 năm sau, Chu Văn Vương, vào khoảng (1144 năm tr.CN) trong khi nằm ở ngục Dữu Lý đã xếp lại quẻ Dịch của Phục Hy và viết Thoán từ cho quẻ.
Sau đó, Chu Công Đán là con của Chu Văn Vương đã đặt lời cho từng vạch một hay còn gọi là Hào từ gồm có 384 hào của 64 quẻ. Ông gán cho mỗi hào một ý nghĩa ngắn gọn mang tính triết lý hoặc sự lành dữ, tốt xấu. Về các "Thoán từ" và "Hào từ" của Văn Vương và Chu Công quá vắn tắt và nhiều câu lơ lửng, khó hiểu nên Khổng Tử (551- 479 tr.CN) viết "Thập Dực" (mười cánh) nhằm giải thích ý nghĩa thoán từ và những câu lơ lửng khó hiểu trong "Kinh Dịch". Vì vậy, tiên nho mới ví thập dực giống như mười cánh chim bay bổng, có ý nói "Kinh Dịch" đến đây là đã hoàn tất và có thể phát huy được hết ý nghĩa của nó.
"Thập Dực" gồm 10 thiên: Thoán truyện (2 thiên), Tượng truyện (2 thiên), Hệ từ truyện cũng gọi là Đại truyện (2 thiên), Văn ngôn truyện (1 thiên), Thất quái truyện (1 thiên), Tự quái truyện (1 thiên), Tạp quái truyện (1 thiên). Sau đó, Khổng Tử chia "Chu Dịch" làm hai thiên: "Thượng Kinh" gồm 30 quẻ và "Hạ Kinh" gồm 34 quẻ, tổng cộng là 64 quẻ. Vì vậy, "Kinh Dịch" do 5 tác giả xây dựng nên, đó là: Một là, Hà Đồ và Tiên Thiên Bát Quái của Phục Hy. Hai là, Lạc Thư và Cửu trù hồng phạm của Hạ Vũ.
Ba là, Thoán từ và Hậu Thiên Bát Quái của Văn Vương. Bốn là, Hào từ của Chu Công Đán. Năm là, Thập dực gồm 10 thiên truyện của Khổng Tử. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài ra, các sách viết về "Kinh Dịch" rất nhiều, có tới 150 bộ gồm 1761 quyển của 158 tác giả nhưng tất cả đều xoay quanh nội dung của các tác giả nêu trên.
Trong hơn 50 năm qua, thế giới lại say mê nghiên cứu "Kinh Dịch", dựa trên cơ sở các phê phán và tìm kiếm bản khắc mai rùa thời Thương và Chu cũng như bản khắc trên đồ đồng thời Chu và các nguồn khác. Việc xây dựng lại nguồn gốc của "Kinh Dịch" này có quan hệ với một loạt các cuốn sách như "The Mandate of Heaven: Hidden History in the I Ching" (Nhiệm vụ của thượng đế: bí mật lịch sử trong Kinh Dịch) của tác giả S.Marshall và "Zhouyi: The Book of Changes" (Chu Dịch: cuốn sách của sự thay đổi) của Richard Rutt. Các nghiên cứu khoa học có liên quan đến cách hiểu mới về "Kinh Dịch" bao gồm các luận án tiến sĩ của Richard Kunst và Edward Shaughnessy. Các công trình khoa học này được giúp đỡ rất nhiều bởi phát hiện trong những năm 1973 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời nhà Tiền Hán (khoảng năm 168 tr.CN) ở Đồi Mã Vương gần Trường Sa, tỉnh Hồ Nam.
Văn bản trong ngôi mộ cổ bao gồm cả những chú giải bổ sung của "Kinh Dịch" mà trước đây người ta không được biết và có vẻ như được viết ra (như người ta vẫn gán cho) bởi Khổng Tử. Hầu hết văn bản trong ngôi mộ ở Đồi Mã Vương là sớm hơn vài thế kỷ so với các bản "Kinh Dịch'' sớm nhất được công nhận. Nhiều người cho rằng: các văn bản này không nhất thiết phải loại trừ lẫn nhau, nhưng nhiều nhà khoa học hiện đại nghi ngờ về sự tồn tại thật sự của Phục Hy cũng như cho rằng Khổng Tử không làm gì cho "Kinh Dịch" cả. Một số học giả khác cho rằng: Đồ hình của "Kinh Dịch" là sản phẩm của nền văn minh Thần Nông (ở phía nam sông Dương Tử, trong đó có Việt Nam) mà sau này người Hoa Hạ đã học tập và phát triển lên.
Luận cứ của họ không phải là không có cơ sở khoa học khi mà một số tên quẻ cũng như diễn giải quẻ của người Trung Quốc từ xưa tới nay đôi khi còn rất mơ hồ. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, chúng ta đều thống nhất với nhận định "Kinh Dịch" xuất hiện rất sớm trong lịch sử nhân loại, nó có nguồn gốc từ Trung Quốc. Các loại Kinh Dịch "Kinh Dịch" chia làm nhiều loại: Một là, Liên Sơn Dịch: là sách Dịch nhà Hạ có từ thời Phục Hy, lấy quẻ Cấn ( ) làm chủ. Hai là, Qui Tàng Dịch: là sách Dịch nhà Thương có từ thời vua Thần Nông, nông nghiệp phát triển nên lấy quẻ Khôn ( ) làm chủ.
Ba là, Chu Dịch: là sách Dịch nhà Chu, đó là thời Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương khởi nghiệp, lúc này trình độ khoa học đã phát triển nên lấy quẻ Càn ( ) và Khôn ( ) làm chủ. Trong Tứ Khố Toàn Thư Liên minh Mục Lục có 4 bộ: Kinh, Tử, Tập, Sử thì "Kinh Dịch" được xếp vào bộ Kinh. Ngày nay, trong các Y văn không còn nhắc tới "Liên Sơn Dịch" và "Qui Tàng Dịch" nữa mà tất cả các sách về Dịch chỉ nói về "Chu Dịch" mà thôi. Kết cấu, nội dung chính của Kinh Dịch 1.
Kết cấu của Kinh Dịch "Kinh Dịch" là một tác phẩm được cấu tạo đặc biệt. Do nhiều tác giả khác nhau nên việc trình bày kết cấu của "Kinh Dịch" cũng không thống nhất. Tuy nhiên, về đại thể ta có thể thấy như sau: "Kinh Dịch" bao gồm 12 thiên trong đó có 2 thiên kinh và 10 thiên truyện. - Phần thứ nhất là gồm hai thiên kinh: + Thượng kinh + Hạ Kinh - Phần thứ hai là Thập dực (Mười thiên truyện) 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Nội dung chính của Kinh Dịch Trong toàn bộ "Kinh Dịch" bao quát các nội dung cơ bản sau: - Hà đồ và Tiên thiên bát quái từ thời vua Phục Hy (2852 - 2737 tr. Theo truyền thuyết thì vua Phục Hy vạch ra Hà đồ và tiên thiên bát quái nhân dịp vua trông thấy con long mã (con ngựa đầu rồng - một con vật thần thoại) xuất hiện trên sông Hoàng Hà, trên lưng nó có những chấm như một bức họa đồ, vua liền phỏng theo và vẽ thành một bức đồ gọi là "Hà đồ". Hà Đồ nguyên thủy chỉ có 55 điểm đen trắng phân phối như sau: Hình 1: Hà Đồ Hà Đồ gồm 55 điểm đen trắng chia thành chẵn lẻ, Âm Dương. Dương số: 1 + 3 + 5 + 7 + 9 = 25 Âm số: 2 + 4 + 6 + 8 + 10 = 30 Tức là chẵn nhiều hơn lẻ, Âm nhiều hơn Dương, với ngụ ý: Âm phải bao bọc cho Dương tôn quí ở bên trong, Âm ti tiện ở bên ngoài.
Âm chính ra 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phải đóng vai bì phu, vỏ bọc, vai khách. Âm Dương mới là chủ động, cốt cán. Tuy nhiên, nhìn vào Hà Đồ ta thấy: Bên phía phải, các số lẻ 7 và 9 (Dương) lại ở bên ngoài, các số chẵn 2 và 4 (Âm) lại ở bên trong. Ở bên trái, thì ngược lại: Các số lẻ 1, 3 (Dương) ở phía trong, các số chẵn 6, 8 (Âm) ở phía ngoài.
Hình 2: Diễn số Hà Đồ Vua lại lấy vạch ngang liền ( ) để ký hiệu là "dương", vạch ngang đứt ( ) để kí hiệu là "âm", gọi đây là lưỡng nghi. Mỗi gạch như thế gọi là 1 hào. Xếp các hào âm và dương thành những tập hợp. Tập hợp hào, ta có 4 tượng (tứ tượng) là: Tập hợp 3 hào ta sẽ được tám quẻ (bát quái).
Tám quẻ đó là: : Càn (hay kiền) vi thiên là trời có đức cứng mạnh, là đàn ông. : Đoài (hay đoái) vi trạch là chầm(đầm), vui vẻ. : Ly vi hỏa là lửa, sáng. : Chấn vi lôi là sấm, động.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com : Tốn vi phong là gió, vào. : Khảm vi thủy là nước, hiểm trở. : Cấn vi sơn là núi, yên tĩnh. : Khôn vi địa là đất, có đức nhu thuận, là đàn bà.
Xếp theo thứ tự này gọi là Tiên thiên bát quái. Tiên Thiên bát quái có nghĩa là bát quái tượng trưng vũ trụ (thiên) hồi đầu, khi mới hình thành. Tức là 8 quẻ nguyên thủy do vua Phục Hy vạch ra. Hình 3: Tiên thiên bát quái 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hình 4: Hà Đồ và Tiên thiên bát quái - Lạc thư và Cửu trù Hồng phạm của vua Hạ Vũ (2205 - 2197 tr.
Theo "Kinh Thư", sau khi trị thủy thành công, Vua Vũ, người đã sống ở thế kỷ 22 tr.CN đã được Trời ban cho "Hồng Phạm Cửu Trù", tức là phép tắc cai trị xã hội, và định chế nhân luân. Tục truyền Trời cho thần qui hiện lên ở sông Lạc, mang trên lưng một hình vẽ. Vua Vũ mới đặt tên là "Lạc Thư", nhân đấy làm ra "Hồng Phạm".