đặt vấn đề mới. Một mặt, họ tuyên bố bản thể luận là không có nội dung và lặp lại; Mặt khác, thông qua sự phê phán những quan điểm sai lầm trước, họ lại 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kết thúc bằng việc đòi hỏi tạo ra một bản thể luận (siêu hình học) mới, hoàn thiện hơn, thay thế nó bằng triết học tiên nghiệm (Căng) hay bằng hệ thống chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm (Selinh) hay bằng logic học (Hêghen). Bằng quan niệm duy tâm, Hêghen đã đoán trước được tư tưởng về sự thống nhất giữa bản thể luận (phép biện chứng), logic học và lý luận nhận thức và do đó đưa quan niệm về bản thể luận tư biện sai lầm trước đó trở thành cách nhận thức thực sự tích cực về thế giới. Triết học phương Tây hiện đại thế kỷ XX, phản ứng trước việc phổ biến những trào lưu duy tâm chủ quan (chủ nghĩa Căng mới; chủ nghĩa thực chứng) có ý thức xây dựng một cách hiểu mới về Bản thể luận trên cơ sở duy tâm khách quan như quan niệm về bản thể luận tiên nghiệm của Huxéclơ; bản thể luận phê phán của Háctman; bản thể luận cơ bản của Heidegger; bản thể luận hiện tượng học của Sartre.
Trong học thuyết bản thể luận mới, người ta hiểu bản thể luận là một hệ thống những khái niệm phổ biến về tồn tại mà có thể hiểu được nhờ một số trực giác siêu cảm tính và siêu lý tính. Triết học Mác xít không dùng thuật ngữ bản thể luận. Trong một số trường hợp, thuật ngữ này được hiểu gần như đồng nghĩa với học thuyết về những quy luật phát triển chung nhất của tồn tại. Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Đông Thường được ví là cái nôi của văn minh nhân loại, trong dòng chảy của tư tưởng phương đông, những tư tưởng triết học được thể hiện đậm nét ở một số quốc gia tiêu biểu như Trung Quốc, Ấn Độ.
với những quan niệm về bản thể luận rất đặc sắc. Quan niệm của triết học Trung quốc cổ trung đại về bản thể luận. Một trong những quan điểm tiêu biểu của người Trung quốc cổ đại về bản thể luận là quan điểm về Đạo của Lão Tử - người sáng lập ra trường phái triết học đạo gia, một trong ba trường phái triết học lớn nhất của trung quốc thời cổ đại. Thực ra, quan niệm về Đạo đã có từ trước thời của Lão tử với các nghĩa khác nhau: “thiên đạo”, “nhân đạo”, “đại đạo”…Nhưng đến Lão tử thì 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khái niệm “đạo” trở thành phạm trù trung tâm trong hệ thống triết học của ông và được nghiên cứu một cách sâu sắc và có hệ thống nhất.
Theo Lão tử, “Đạo” là cái có trước trời đất, trống không và lặng yên nhưng lại có ở mọi nơi, là nguồn gốc của vạn vật. Nó là sự thống nhất của thế giới, là bản nguyên sâu kín, huyền diệu mà từ đó vạn vật có danh tính, có hình thể được sinh ra. Đạo là thực thể vật chất của khối “hỗn độn”, “mập mờ”, “thấp thoáng” không có đặc tính, không có hình thể, nhìn không nhìn thấy, nghe không nghe thấy, bắt không bắt được, chẳng thể gọi tên. Nó tồn tại bất luận con người nhận thức được hay không.
Ở khía cạnh bản thể luận, khái niệm “đạo” của Lão tử được đề cập ở ba khía cạnh là thể, tướng và dụng. + Thể của “đạo” theo quan niệm của Lão tử không đồng nhất với cách hiểu về “bản thể” theo quan niệm phương Tây. Theo Lão Tử, đó là cái chỉ nguồn gốc nguyên thủy của vũ trụ vạn vật, là cái “tổng nguyên lý” chi phối sự sinh thành, biến hóa của trời đất. Ông cho rằng: “có vật gì hỗn độn mà nên, sinh ra trước trời đất, vừa trống không vừa lặng yên, đứng một mình không thay đổi, lưu hành khắp mọi nơi mà không mỏi, là mẹ cả thiên hạ” (Đạo đức kinh, chương 25).
“Đạo” mang tính khách quan, tự nhiên, có nghĩa là nó vốn như vậy, mộc mạc, thuần phác, không bị chi phối, nhào nặn bởi con người và hoàn toàn độc lập với ý thức con người – nó sinh ra vạn vật nhưng bản thân nó không có ý chí, mục đích. “Đạo” với bản tính tự nhiên chứa đựng trong nó cả tồn tại lẫn không tồn tại, cả tĩnh lặng lẫn biến đổi, cả siêu hình và hữu hình. Một tính chất khác của “đạo” là tính lặng yên và trống không, đây là một định tính căn bản, nó vô cùng vô tận, chứa đựng vạn vật mà không đầy, biến hóa đa dạng khôn lường mà không hết, nó là cái sâu kín, mầu nhiệm, không danh tính, không hình thể, không thể nói ra được bằng lời. + Tướng của “đạo”: đạo với tư cách cơ sở đầu tiên của vạn vật không phải là thể cố định, đặc biệt là thực thể của cả một khối hỗn độn, không có bất cứ tính quy định nào ngoài tính khách quan, tự nhiên chất phác, trống rỗng - đó là cái tồn tại tuyệt đối, sâu kín, thấp thoáng, là thể thống nhất không phân 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chia giữa hữu với vô, sáng với tối…, là cái “nhìn không thấy, nghe không thấy, nắm không được, đón không thấy đầu mà theo không thấy cuối, ở trên không sáng tỏ, ở dưới không mờ tối” (Đạo đức kinh, chương 14).
Như vậy, tướng của đạo theo nghĩa là các biểu hiện đa dạng của nó không chỉ một sự vật, hiện tượng cụ thể hữu hình nào, mà chỉ là cái mà tất cả mọi vật được sinh ra từ nó, là cái tồn tại tiềm ẩn đằng sau những thay đổi của vạn vật. Đạo vừa duy nhất, vừa muôn hình vạn trạng, vừa bất biến lại vừa khả biến. Trong Đạo đức kinh, Lão Tử thường lấy nước để diễn đạt trạng thái “tướng” phổ biến của “đạo” - sự mềm mại, linh hoạt và dễ thích ứng của nước. Theo ông, rất mềm là nước, rất rắn là đá, thế mà, nước chảy đá mòn, núi đổ.
Nước tương đồng với đạo ở chỗ không thể chất, không hình trạng (vô tướng). Đạo giống như nước, luôn chảy về nơi thấp, như sông, biển dài rộng, to lớn nhưng là chỗ thấp nên trăm dòng chảy dồn về. Nó mềm mại không tranh chấp, ganh đua, nó nhún nhường khiêm tốn nên có thể lan tràn, len lỏi mọi nơi. Trong mọi trường hợp, dù chao đảo, nghiêng ngửa nước vẫn luôn tìm lại được thế quân bình của mình, nhanh chóng tạo lập mặt phẳng, san lấp lồi lõm, vì vậy để cho thấy một cách cụ thể và sinh động tính quân bình trong thực tướng của đạo, không gì có thể hay hơn là hình ảnh mặt nước phẳng lặng trên bề mặt mà cuồn cuộn các dòng chảy ngầm ngang dọc ở bên dưới.
+ Dụng của “đạo” tức là công dụng, năng lực của nó - trạng thái vận động, biến đổi sản sinh vạn vật. Đạo có sức sáng tạo vô cùng lớn lao, có thể bao quát, ngự trị trời đất, nhờ đạo mà vạn vật hiển hiện ra trong vũ trụ bằng muôn loại hình dạng khác nhau. Năng lực của đạo là ở chỗ không làm, yên tĩnh nhưng không có gì mà nó không làm, không có cái gì mà sự tồn tại, phát triển của chúng không cậy đến đạo. Dùng hai chữ “đạo” và “đức” là để chỉ cả “thể” và “dụng” của đạo, đạo là thể của đức, đức là dụng của đạo… Như vậy, “đạo” là hạt mầm chứa lẽ sống chưa hiển lộ - là cái gốc của muôn vật.
Trong tư duy, khái niệm đạo rất tương đồng với khái niệm chân không (sunyata) của Long Thọ Bồ tát trong một cố gắng đi tìm nguyên thể đầu tiên với tính cách 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cội nguồn của vũ trụ, vạn vật với các tính chất tự nhiên, tĩnh lặng, trống không. Có thể thấy những quan điểm về bản thể luận trong khái niệm “Đạo” của Lão tử, nếu gạt bỏ những điểm hạn chế về thế giới quan và lập trường duy tâm, đã phần nào tiêu biểu cho cho những quan niệm biện chứng đầy tinh tế và bí hiểm của người phương đông. Quan điểm này vừa thể hiện quan điểm trực quan nguyên sơ của người trung quốc cổ đại nhưng lại hàm chứa trong đó những đoán định, cảm nhận sâu sắc về sự tồn tại và biến hoá của vũ trụ, điều chỉ xuất hiện khi tư duy trừu tượng đạt tới trình độ cao. Nếu quan điểm của phái Đạo gia nghiêng về việc lý giải thế giới bắt đầu từ bản nguyên đầu tiên và duy nhất thì học thuyết Âm dương - Ngũ hành của trường phái triết học cổ nhất của Trung quốc cổ đại lại hướng đến việc lý giải sự tồn tại của thế giới trong sự tương tác của các yếu tố tự nhiên trong thế giới mà thành.
Với quan điểm duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát, lấy chính tự nhiên để giải thích các hiện tượng của tự nhiên, các quan điểm này hướng tới việc phân tích sự tác động của các yếu tố cơ bản có trong tự nhiên tạo thành sự vật (học thuyết ngũ hành) hay là sự liên hệ, tương tác giữa hai mặt đối lập, hai thế lực vật chất cơ bản để tạo nên vũ trụ (học thuyết âm dương). Học thuyết Thái cực, Âm dương luận: Đây là quan niệm, học thuyết về sự liên hệ, tác động qua lại giữa hai mặt đối lập, hai thế lực vật chất cơ bản của thế giới là âm và dương, là bản thể làm nên sự tồn tại của thế giới. Theo đó, mọi sự vật, hiện tượng của vũ trụ đều bắt nguồn từ bản thể tối cao - “khí” = “thái cực” = nguyên thể đầu tiên, cội nguồn của thế giới. Thái cực hay Khí là một khối hỗn độn, mênh mông, không đầu, không cuối, không đo lường được, thái cực bao hàm trong nó hai mặt đối lập âm - dương, chúng vừa đối lập, vừa thống nhất, trong cái này có cái kia và ngược lại.
Chính sự liên hệ tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau của âm và dương trong thái cực đã tạo ra sự vận động, biến hóa không ngừng của vũ trụ. Với xu hướng thiên về sự suy 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tư về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn vật, học thuyết âm dương muốn đi tìm, lý giải sự thống nhất của thế giới trong sự thống nhất của hai mặt đối lập. Yếu tố duy vật trong nhận thức như vậy đã từng bước làm lu mờ quan niệm về vai trò của thần thánh và các lực lượng siêu nhiên của các tư tưởng duy tâm đã thống trị rất lâu trước đó.