phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm có 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu (24 trang) Chƣơng 2. Cơ sở lý luận và thực ti n của việc bồi dƣỡng NLTH cho HS với sự hỗ trợ của MXH (57 trang) Chƣơng 3. Thiết kế tiến trình DH theo hƣớng bồi dƣỡng NLTH cho HS một số kiến thức Cơ học và Điện từ học Vật lí THPT với sự hỗ trợ của MXH (29 trang) Chƣơng 4.
Thực nghiệm sƣ phạm (27 trang) 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về tự học và năng lực tự học 1. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới Vấn đề TH đã đƣợc nhiều học giả và những nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu nhƣ V. Kế thừa những nghiên cứu trƣớc đó về TH và ch ra một số thành phần tâm lý cơ bản của sự lĩnh hội.
Các thành phần này có mối quan hệ qua lại với nhau trong tâm lý của HS, nếu thiếu sự tự giác, tích cực thì học tập của HS s không đạt yêu cầu. Nghĩa là trong học tập, HS phải TH, tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức cho bản thân [19], [44]. Khi nghiên cứu việc tổ chức có hiệu quả hoạt động TH của ngƣời học, tác giả I. Kharlamôv đã đề cập đến động cơ và việc phát huy tính tích cực của HS đối với hoạt động TH trong tác ph m “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào”.
Tác giả đã nhấn mạnh việc học tập và xem nó là quá trình nhận thức tích cực của HS. Vai trò của ngƣời GV là ngƣời tổ chức và hƣớng dẫn việc học tập, tạo điều kiện cần thiết để kích thích hoạt động nhận thức của HS. HS phải nắm vững kiến thức và tự tổ chức việc học tập của mình, tự tái tạo tri thức của loài ngƣời thành tri thức của mình, qua đó tính tích cực đƣợc hình thành và phát triển. Theo ông, TH đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính tích cực nhận thức và hiệu quả hoạt động trí tuệ của HS, ông đã nêu lên một loạt những phƣơng pháp, những thủ thuật nhƣ phép tƣơng tự, phân tích - tổng hợp, quy nạp, tìm nguyên nhân gây ra hiện tƣợng, nhấn mạnh mâu thuẫn chứa đựng trong tài liệu nhằm kích thích và phát huy tính tích cực nhận thức của HS [36] [37].
Nghiên cứu về TH và xem hoạt động TH nhƣ là một PPDH, G. Và nguời học TH s có những biểu hiện của ngƣời có NLTH và xác nhận rằng ngƣời TH là ngƣời có động cơ học 7 tập và bền b , có tính độc lập, k luật, biết định hƣớng mục tiêu và có kĩ năng hoạt động ph hợp [105]. Bên canhj đó, còn đƣa ra chủ trƣơng hình thành môi trƣờng học tập, trong đó ngƣời học có ý thức về bản thân, an toàn và tự do để lựa chọn. Ngƣời học phải có trách nhiệm đầy đủ về sự quyết định, về hành động và KQHT của họ, GV có nhiệm vụ xây dựng môi trƣờng học tập tin cậy an toàn trở thành ngƣời c ng học, chu n bị sẵn sàng các nguồn lực và kĩ thuật học tập [102].
Quan niệm sai lầm lớn nhất là cố gắng để nắm bắt đƣợc bản chất của TH trong một định nghĩa duy nhất. Theo đó cho d nghiên cứu hay thực hành, học cá nhân hay học nhóm, mỗi một cá nhân ngƣời học có phƣơng pháp, có NL riêng biệt - chính sự riêng biệt ấy cho thấy NLTH và việc TH của mỗi cá nhân là khác nhau [97]. Trong công trình “Học tập một cách thông minh” của Shayer Michael và dey Philip đã đƣa ra nhiều biện pháp giúp HS học tập một cách thông minh. Các tác giả chú trọng vào tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của HS từ đó đƣa ra những gì cần giúp đỡ các em trong quá trình TH.
Bên cạnh đó Michael và Phillip còn quan tâm đến vấn đề giao tiếp của HS khi hoạt động nhóm, thông qua những ghi chép về các đoạn hội thoại của các em có thể kết luận mức hiểu bài cũng nhƣ mức độ tích cực của HS khi TH [100] Trong cuốn sách “Tự học”, Richard Smith lại cho rằng TH có nghĩa là ngƣời học tự chủ. Theo ông đây không hoàn toàn là một phƣơng pháp trong DH mà là một mục tiêu quan trọng của giáo dục. Ý tƣởng về tự chủ của ngƣời học không phải là mới, ông còn gọi thuật ngữ này với cách gọi khác nhƣ: Cá nhân hóa, ngƣời học độc lập. Điều này có ý nghĩa là ngƣời học phải có đầy đủ NL để chịu trách nhiệm và ra quyết định đối với việc học của mình.
Tác giả Dimitrios Thanasoulas, trong cuốn “Tự học là như thế nào và làm thế nào bồi dưỡng việc tự học” cho rằng khái niệm TH là sự độc lập và tự chủ của ngƣời học. Nó là một vấn đề quan trọng nhất trong việc giảng dạy. Ngƣời học, học tập một cách độc lập và có trách nhiệm đối với việc học của mình; Tác giả cũng không phủ nhận vai trò hƣớng dẫn của GV đối với việc TH của HS. Bên cạnh đó, tác giả phân tích khá kĩ về việc mỗi cá nhân đều khác nhau về thói quen học tập, sở thích, nhu cầu và động lực.
Từ đó ông đƣa ra trong nghiên cứu của mình quan niệm về TH, điều kiện để TH, chiến lƣợc học tập hiệu quả cũng nhƣ những biện pháp khuyến khích HS TH và tự kiểm tra, đánh giá việc học của bản thân. 8 Về mối quan hệ giữa nhiệm vụ học tập ở nhà và TH, tác giả K. Êlidarốp đã chú ý đến việc học ở nhà của HS, nói lên tác dụng của việc TH ở nhà và mối quan hệ giữa nhiệm vụ ở nhà và TH. Ông cũng đã nêu rõ nội dung của việc TH ở nhà, ở đó có sự phân hóa trong quá trình giao bài tập cho từng đối tƣợng HS.
Tuy nhiên, những bài tập khó ch dành cho đối tƣợng khá giỏi, không bắt buộc tất cả phải làm. Sự phân hóa thực hiện không ch đối với HS khá giỏi mà còn có những bài tập mang tính gợi mở cho những bài tập chung để HS yếu kém có thể hoàn thành nhiệm vụ tối thiểu GV giao cho. Theo đó, việc giao bài tập để HS thực hiện trong thời gian TH đƣợc xem là biện pháp quan trọng để nâng cao tính tích cực và hiệu quả hoạt động TH của HS. Cho dù các bài học đƣợc hoàn thiện nhƣ thế nào, mức độ tích cực của HS ở trên lớp cao đến nhƣ thế nào, thì việc giao các bài tập ở nhà vẫn rất cần thiết.
Tuy nhiên, việc TH ở nhà của HS đòi hỏi phải có ý thức, tính tích cực và tính tự lực cao [25]. Trong những công trình nghiên cứu về việc hình thành và phát triển kĩ năng, phƣơng pháp TH thì A. Leonchiev đã nghiên cứu và ch ra các kĩ năng TH cần thiết để đảm bảo cho HS đạt kết quả cao. Trong kĩ năng TH, tác giả nhấn mạnh đặc biệt đến kĩ năng đọc sách.
Theo ông kĩ năng đọc sách là kĩ năng cơ bản, quyết định đến kết quả hoạt động TH của HS. Ôkôn trong cuốn “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề” cho rằng tính tích cực là lòng ham muốn hành động đƣợc nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động, chủ thể đã ý thức đƣợc mục đích của hành động. Khi nghiên cứu về hoạt động TH tác giả đã đi sâu nghiên cứu về các kĩ năng TH. Ông cho rằng để TH có hiệu quả thì ngƣời học phải có kế hoạch TH.
Kế hoạch học tập s giúp ngƣời học chủ động trong hoạt động và thể hiện tác phong khoa học trong TH của bản thân [58]. Một hƣớng nghiên cứu khác lại tập trung xác định, phân loại đặc điểm của NLTH để nhận ra vai trò của GV trong việc hƣớng dẫn HS TH điển hình là Taylor, Candy Linda Leach, Guglielmino. Cụ thể tác giả Candy trong phân tích lý thuyết toàn diện của mình, ông tiếp tục phát triển khái niệm NLTH theo hai phƣơng diện (yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong). Đối với phƣơng diện về yếu 9 tố bên ngoài của NLTH ông nhấn mạnh rằng quá trình tự kiểm soát hoạt động học tập là rất quan trọng để HS hoàn thiện NL kiểm soát và NL này chịu ảnh hƣởng bởi phƣơng pháp giảng dạy của GV do vậy trong cơ sở giáo dục GV phải chủ động lập kế hoạch giảng dạy để định hƣớng hoạt động kiểm soát của HS.
Mục đích là cung cấp cho ngƣời học những cơ hội để trải nghiệm và trao quyền cho các em để tìm hiểu tri thức một cách độc lập. Yếu tố bên trong chính là một thuộc tính tâm lý của con ngƣời, tác giả đề cập nhiều đến sự tự tin, tự tin s giúp cho ngƣời học kiên nhẫn theo đuổi các cơ hội học tập [88]. Bên cạnh đó, Taylor và Candy đã tập trung mô phỏng, xác định những dấu hiệu của NLTH đƣợc bộc lộ ra ngoài. Những nghiên cứu này hƣớng tới tìm ra hình thức tác động đến ngƣời học để giúp cho ngƣời học thuận lợi trong quá trình TH [88], [105].
Rubakin trong tác ph m “Tự học như thế nào” đã nhấn mạnh vai trò của thái độ tích cực TH trong việc chiếm lĩnh tri thức của HS. Tác giả cho rằng để HS tích cực, chủ động trong quá trình TH thì cần phải giáo dục động cơ học tập đúng đắn [63]. Tất cả phƣơng pháp tự tìm ra kiến thức, chung quy gọi là phƣơng pháp TH. Mỗi cá nhân phải tự tổ chức việc học của mình sao cho ph hợp với điều kiện thực ti n.
Ngƣời học theo cách riêng của cá nhân nhƣng thƣờng xuyên trao đổi kiến thức với nhau, còn gọi là “thảo luận chung” để phổ biến cách học của mình cho ngƣời khác. Tác giả đã đánh giá đƣợc vai trò quan trọng của kiến thức chuyên môn rất cần thiết trong cuộc sống vì mỗi ngƣời cần có một nghề để sống và tạo ra của cải cho xã hội để tồn tại. Vì vậy, để có thể phân biệt đƣợc những vấn đề thƣờng xuyên xảy ra xung quanh thì con ngƣời cần TH. TH giúp con ngƣời biết so sánh kiến thức trong sách và thực tế trong cuộc sống.
Tác giả cũng phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa việc TH và đặc điểm riêng của từng cá nhân. Việc tiếp thu kiến thức trong cuộc sống cần có sự đấu tranh, vƣợt khó khăn thì mới có vinh quang, đồng thời có năng khiếu mà không r n luyện, học tập thì năng khiếu cũng không phát triển.