Chương 1: Tư duy thơ và hành trình sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên 1. Tư duy đối lập làm nên một Chế Lan Viên ưa triết lí… 2.Và hành trình sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên 3. Chế Lan Viên - sự vận động của một cái tôi nhiều đối cực Chương 2: Đối lập tương phản trong các chi tiết hình ảnh, hình tượng thơ 1. Đối lập tương phản trong các chi tiết hình ảnh.
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên 2. Đối lập tương phản trong các hình tượng thơ. Chương 3: Đối lập tương phản trong nghệ thuật xây dựng thời gian và không gian. Và cuối cùng là danh mục các tài liệu tham khảo.
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên B. NỘI DUNG CHÍNH Chƣơng 1: Tƣ duy thơ và hành trình sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên 1. Tƣ duy đối lập làm nên một Chế Lan Viên ƣa triết lí. Từ cổ chí kim có biết bao quan niệm khác nhau về chức năng của thơ ca.
Thời trung đại, quan niệm “ thi dĩ ngôn chí” ( làm thơ để tỏ rõ cái chí khí của mình) đã biến thơ trở thành công cụ giáo huấn đạo đức, giữ gìn phong hóa kỉ cương, tôn trọng trật tự xã hội. Đến Phan Bội Châu- một chí sĩ yêu nước đầu thế kỉ XX- văn chương lại gắn liền với chức năng tuyên truyền tư tưởng yêu nước, quan điểm chính trị. Ông viết rất nhiều bài thơ để “thức tỉnh” thế hệ trẻ : Xuất dương lưu biệt, Ru em,….Cùng quan niệm này, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu viết: “ Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tòe”. Đến Tản Đà – nhà thơ vốn được mệnh danh là gạch nối giữa hai thế kỉ, người mở ra nhưng không dám bước hẳn qua địa hạt của Thơ Mới thì quan niệm về văn chương lại có sự đổi khác: Tản Đà cho rằng có văn có ích có văn chơi.
Như vậy, văn chương nói chung và thơ ca nói riêng không chỉ có mục đích nhận thức, giáo hóa mà nó còn được dùng để giải trí, trước tiên là cho bản thân người làm thơ.Và lần đầu tiên trong thơ ca, bằng sự xuất hiện của phong trào Thơ Mới, cái tôi trữ tình được bộc lộ trực tiếp và trực diện nhất. Cái tôi giãi bày, sẻ chia, tìm tâm hồn đồng điệu. Có thể nói, hầu hết các nhà thơ Mới đều phủ nhận vai trò của lí trí và đề cao vai trò của cảm xúc trong tư duy thơ ca. Thời kì sau này, thơ ca cách mạng lấy hiện thực cách mạng làm đối tượng phản ánh, nhấn mạnh sự hài hòa giữa lí trí và cảm xúc.
Có thể nói, đời thơ của Chế Lan Viên trải dài theo từng bước biến động của văn học và lịch sử dân tộc. Là một nghệ sĩ luôn trăn trở với nghề, Chế Lan Viên cũng có những suy nghĩ sâu sắc về thơ. Ông Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên nhấn mạnh yêu cầu súc tích, đột phá của thơ: “ Thơ là cô đúc, là thể “đóng”. Thơ đòi cô đúc để rồi trong một phút nổ ra như tiếng sét.
Đây không phải là chuyện dài hay ngắn, đây là cuộc chạy đua một trăm mét cơ mà…Thơ ngắn nhưng đây là cái nhỏ bé của nguyên tử”. Trong quan niệm của Chế Lan Viên chúng ta thấy ông nhấn mạnh tính trí tuệ của tƣ duy thơ, tính đột xuất của sáng tạo thơ. Điểm qua một cách ngắn gọn quan niệm về chức năng của thơ như trên chúng tôi muốn nhấn mạnh: chính tƣ duy thơ sẽ quy định đến tất cả các yếu tố về nội dung và nghệ thuật của bài thơ. Giả sử, cảm xúc trào dâng khiến bạn nảy ra một ý thơ nào đó và bạn muốn làm một bài thơ.
Để có thể làm được bài thơ diễn tả ý thơ đó, bạn phải chọn lựa thể loại, kết cấu, chọn cách gieo vần, ngắt nhịp,…Như vậy bạn đang phải tiêu tốn thời gian để suy nghĩ, tìm tòi. Điều đó có nghĩa là bạn đang tư duy. “Tư duy thơ là một phương thức nhận thức của con người nhằm biểu lộ bản chất sự vật bằng hình tượng ngôn ngữ. Chính vì tính chất tổng thể đó mà tư duy thơ là một vấn đề có tính chất trung tâm của nhiều vấn đề lý luận về thơ” [ 34, tr2] Nghiên cứu tư duy thơ không thể tách rời hành trình sáng tạo của nhà thơ với tư cách là một nghệ sĩ ngôn từ.
Tư duy thơ là một hình thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật trong đó tư duy nghệ thuật lại chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo. Tư duy nghệ thuật khác với tư duy khoa học: tư duy nghệ thuật chấp nhận một khả năng tưởng tượng dường như vô tận của nghệ sĩ nhưng trí tưởng tượng phi thực tế lại trái với tư duy khoa học. Như chúng ta đã biết, chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ là chức năng giao tiếp. Nhưng ngôn ngữ không chỉ có một chức năng như vậy.
Gắn liền với chức năng giao tiếp, ngôn ngữ còn có một chức năng khác nữa cũng đặc biệt quan trọng, liên quan đến tư duy, đó là chức năng phản ánh. Ngôn ngữ và tư duy vốn có mối quan hệ khăng khít, thống nhất. Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên Không có ngôn ngữ thì cũng không có tư duy( bởi tư duy được bộc lộ qua ngôn ngữ). Ngược lại không có tư duy thì ngôn ngữ, nếu có, cũng chỉ là những âm thanh trống rỗng, vô nghĩa.
Vì vậy, không thể tách rời ngôn ngữ và tư duy. Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật. Khác với các ngành nghệ thuật hội hoạ, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc, tư duy thơ được biểu hiện trực tiếp và thông qua ngôn từ. Chẳng thế mà có nhà nghiên cứu đã nhận xét: “ Tư duy thơ là một phương thức nhận thức và biểu lộ tình cảm của con người bằng hình tượng ngôn ngữ”.
Có thể nói, ngôn từ- vỏ vật chất của tư duy- đã giúp cho chủ thể bộc lộ cảm xúc, tâm trạng một cách tự nhiên, linh hoạt. Chúng ta đều biết, ngôn ngữ tiếng Việt vừa giàu hình ảnh lại giàu nhịp điệu, thơ ca vì thế vừa là địa hạt của thị giác vừa là địa hạt của thính giác, trong thơ vừa có nhạc vừa có hoạ. Tư duy thơ thường được biểu hiện thành dòng phát ngôn trên văn bản và từng quãng ngắt hơi trong khi đọc. Như vây, sự tồn tại của dòng thơ đã làm ảnh hưởng đến tư duy thơ, tính nhạc điệu của ngôn ngữ cũng chi phối tư duy thơ.
Lê Quý Đôn trong lời đề tựa “ Toàn Việt thư lục” có viết: “Ý thú tiên lập, từ điệu tòng chi” ( nghĩa là: ý tứ lập trước, từ điệu theo sau). Theo đó, ngôn ngữ thơ phải phục tùng ý đồ tư tưởng của chủ thể sáng tạo. Tóm lại, cốt lõi của vấn đề tư duy thơ là vai trò của cảm xúc và lí trí trong hình tượng thơ, quan hệ giữa chủ thể và khách thể, quy luật vận động của ngôn ngữ thơ. Khi nhận xét về mối quan hệ giữa tình cảm và lí trí trong tư duy thơ, P.
Nêruda- nhà nghiên cứu nổi tiếng có nói: “ Một nhà thơ không cần đếm xỉa gì đến lí trí, viết ra chỉ để cho bản thân mình và cho một nhóm nhỏ của mình thôi, đó là một chuyện đáng buồn. Một nhà thơ chỉ có lí trí không thôi thì đến con lừa cũng có thể hiểu được và đó lại cũng là một chuyện đáng buồn nữa” [32, tr 26]. Qua nhận định trên có thể thấy rằng: lí trí, trí tuệ khi đã vào trong thơ phải trở thành hình tượng, thành tình Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên cảm, thành mối xúc động của nhà thơ thì nó mới có thể phát huy hết sức mạnh của nó. Nếu trơ trụi chỉ có lí trí, thơ sẽ mất đi vẻ đẹp làm “ rung động tâm hồn” người đọc, thơ sẽ khô khan sáo rỗng.
Chẳng thế mà, những câu thơ hay- những câu thơ sống mãi với thời gian, in đậm trong tâm trí bạn đọc- là những câu thơ vừa triết lí nhưng cũng chất chứa bao cảm xúc mãnh liệt. Đại thi hào Nguyễn Du đã đúc kết được số phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến bằng sự cảm thông và thương xót: “Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” Hay Xuân Diệu đã dũng cảm quyết liệt nói lên phương châm sống của mình: “ Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm” Tóm lại, rất nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu đồng tình rằng thơ phải là tiếng nói của tâm hồn, tình cảm chứ không phải của lí trí. Vậy thì tại sao những câu thơ vốn đậm chất lí trí, trí tuệ của Chế Lan Viên lại có sức cuốn hút hấp dẫn đối với người đọc đến vậy? Phải chăng bởi vì nhà thơ đã rất thông minh khi viết bằng tình cảm nồng nhiệt và thêm chút gia vị của lí trí để câu thơ của mình không quá nhạt nhẽo. Chế Lan Viên đã biết kết hợp hài hòa giữa lí trí và cảm xúc.
Chế Lan Viên là nhà thơ mạnh cả về tư duy hình tượng lẫn tư duy lôgic. Tư duy thơ Chế Lan Viên mang dấu ấn cá nhân rất rõ. Nhà thơ đã vận dụng được sức mạnh của tư duy khoa học biện chứng và phép đối, đặc biệt là đối nghịch của thơ truyền thống để tạo nên những vần thơ gợi được những cảm nhận kỳ thú và suy tư sâu xa. Có thể nói, lối tư duy theo hướng đối lập tương phản đã tạo nên một Chế Lan Viên ưa triết lí trong thơ.
Ông hay tận dụng tối đa các kiểu so sánh và đối lập để tạo hiệu quả “ chân lí loé lên từ khoảng giữa hai đối Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên cực”.