Tổng quan luận án
Công trình "Tư duy chính trị Hồ Chí Minh - những đặc điểm chủ yếu và ý nghĩa phương pháp luận" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Dung dưới sự hướng dẫn khoa học của GS, TS. Nguyễn Văn Huyên, bảo vệ năm 2014 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Chính trị học, mã số 62 31 20 01.
Lịch sử phát triển chính trị khẳng định vai trò của thể chế và các thủ lĩnh chính trị đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ quốc gia. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX đặt ra hàng loạt câu hỏi về con đường giải phóng dân tộc, xây dựng chính đảng cách mạng, thiết lập nhà nước dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu. Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công các yêu cầu đó bằng một hệ thống lý luận phù hợp với hoàn cảnh lịch sử. Giới nghiên cứu từ trước đến nay chủ yếu tập trung khai thác tư tưởng và hành vi chính trị (kết quả của tư duy), trong khi căn nguyên sâu xa chi phối mọi tư tưởng và hành động lại bắt nguồn từ tư duy. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt, có hệ thống về tư duy chính trị Hồ Chí Minh dưới góc độ triết học chính trị nhằm làm rõ các đặc điểm nội dung, phương pháp tư duy và rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho công cuộc đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam hiện nay.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận về tư duy, tư duy chính trị và tư duy chính trị Hồ Chí Minh, luận án phân tích làm rõ những yếu tố hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh; phân tích và rút ra những đặc điểm thể hiện qua nội dung và phương pháp tư duy chính trị Hồ Chí Minh; xác định ý nghĩa phương pháp luận của những đặc điểm đó đối với công cuộc đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm 3 nội dung:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về tư duy, tư duy chính trị, tư duy chính trị Hồ Chí Minh và những yếu tố hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh.
- Làm rõ những đặc điểm chủ yếu về nội dung và phương pháp của tư duy chính trị Hồ Chí Minh.
- Chỉ ra ý nghĩa phương pháp luận của tư duy chính trị Hồ Chí Minh đối với việc tiếp tục đổi mới tư duy chính trị trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu: Những đặc điểm chủ yếu của tư duy chính trị của Hồ Chí Minh và ý nghĩa phương pháp luận đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu:
- Góc độ tiếp cận: Tiếp cận từ góc độ triết học chính trị để tìm hiểu các dấu hiệu đặc trưng trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh; không nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và không nghiên cứu cấu trúc, chức năng, hình thái tư duy dưới góc độ tâm lý học hay sinh lý học thần kinh.
- Không gian: Trải nghiệm thực tiễn của Hồ Chí Minh tại Việt Nam và các nước trên thế giới qua các bài viết, bài nói và tư liệu hoạt động cách mạng.
- Thời gian: Gắn liền với toàn bộ cuộc đời hoạt động chính trị phong phú, liên tục được bổ sung và hoàn thiện của Hồ Chí Minh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước thành ba nhóm chính:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu đề cập đến tư duy:
- Nghiên cứu nước ngoài: E.Ilencov (Lôgic học biện chứng) luận chứng mâu thuẫn giữa duy vật và duy tâm, khẳng định sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học mác-xít. Edgar Morin (Phương pháp, gồm 6 tập, và Nhập môn tư duy phức hợp) khẳng định tính tất yếu của tư duy phức hợp trước sự phát triển của điều khiển học và lý thuyết hệ thống. David Bohm (Tư duy như một hệ thống, Cái toàn thể và trật tự ẩn) xem xét sự tham gia của tư duy vào việc hình thành tri giác. Daniel Pink (Một tư duy hoàn toàn mới) nhấn mạnh phẩm chất não phải trong nền kinh tế sáng tạo. John Dewey (Cách ta nghĩ) phân tích quy trình rèn luyện trí nghĩ qua môi trường kích thích sáng tạo. M. M. Rodentan (Nguyên lý lô gic biện chứng, Những vấn đề về phép biện chứng trong bộ Tư bản của Mác) và A.Séptulin (Phương pháp nhận thức biện chứng) phân tích các quy luật và chức năng phương pháp luận của phép biện chứng duy vật. Viện Triết học Liên Xô công bố bộ sách Lịch sử phép biện chứng (6 tập) khái quát lịch sử đấu tranh của tư duy biện chứng.
- Nghiên cứu trong nước: Phan Dũng (Sáng tạo và đổi mới), Nguyễn Bá Dương (phân tích tính hai mặt của quá trình tư duy), Nguyễn Mạnh Cương (phân biệt tư duy chính xác và tư duy biện chứng), Mai Hữu Khuê, Nguyễn Đình Trãi, Nguyễn Thanh Tân, Đoàn Thế Hùng, Bùi Thanh Quất - Bùi Trí Tuệ - Nguyễn Ngọc Hà, Ngô Đình Xây, Trần Đình Thỏa. Nhóm nghiên cứu tư duy gắn với đổi mới kinh tế - xã hội gồm Đào Duy Tùng (Bàn về đổi mới tư duy), Hồ Văn Thông, Nguyễn Đăng Quang, Nguyễn Quang Thông, Trần Hữu Tiến, Tô Duy Hợp, Lại Văn Toàn, Hồ Bá Thâm, Trần Văn Phòng, Nguyễn Thị Bích Thủy, Trần Thành, Trần Nhâm.
Nhóm 2: Các công trình về tư tưởng chính trị, tư duy chính trị:
- Nghiên cứu nước ngoài: Michael Freeden (1998, Ideologies and Political Theory: A Conceptual Approach) chỉ ra 6 đặc trưng của tư duy chính trị trong quan hệ với ý thức hệ. Steven M. DeLue và Timothy Dale (Political Thinking, Political Theory, and Civil Society) phân biệt tư duy chính trị và tư tưởng chính trị. Michael Walzer và David Miller (Thinking Politically: Essays in Political Theory), Glenn Tinder (2004, Political Thinking: The Perennial Questions), W. Russell Neuman (nghiên cứu xử lý thông tin chính trị qua phỏng vấn sâu), Joey Sprague (mô hình đa chiều của tư duy chính trị qua phân tích LISREL). Cùng các nghiên cứu của Ernst Vollrath, Hans Fantel, Pamela Johnston Conover, Steven A. Peterson, Joseph Losco, Shawn W.
- Nghiên cứu trong nước: Nguyễn Hoài Văn (Sự phát triển của tư tưởng chính trị Việt Nam thế kỷ X - XV, Đại cương lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX), Nguyễn Việt Hương (Tư tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền...), Hoàng Thanh Đạm (Nguyễn Trường Tộ - Thời thế và tư duy cách tân), Doãn Chính và Phạm Đào Thịnh, Lê Thị Lan.
Nhóm 3: Những công trình liên quan đến tư duy, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh:
Lê Minh Quân (Tư tưởng chính trị của C.Lênin và Hồ Chí Minh), Nguyễn Văn Vĩnh (Tư duy chính trị về quyền con người nhìn từ góc độ triết học), Nguyễn Trọng Phúc, Hoàng Chí Bảo (Tư tưởng và phương pháp chính trị Hồ Chí Minh, Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh), Đặng Xuân Kỳ (Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh), Lê Hữu Nghĩa (Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh), Nguyễn Đức Đạt (Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh), Phạm Văn Đồng (Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh), Trần Văn Giàu, Song Thành, Thành Duy, Trần Văn Phòng, Mạch Quang Thắng.
| Nhóm công trình |
Đại diện tiêu biểu |
Nội dung và đóng góp chính |
| Nghiên cứu về tư duy |
E.Ilencov, Edgar Morin, M. M. Rodentan, Đào Duy Tùng, Phan Dũng |
Làm rõ bản chất, quy luật, chức năng của tư duy, tư duy biện chứng duy vật và yêu cầu đổi mới tư duy |
| Nghiên cứu về tư tưởng, tư duy chính trị |
Michael Freeden, S. M. DeLue, Joey Sprague, Nguyễn Hoài Văn |
Định nghĩa, cấu trúc, phương pháp và 6 đặc trưng của tư duy chính trị trong đời sống xã hội |
| Nghiên cứu tư duy, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh |
Hoàng Chí Bảo, Đặng Xuân Kỳ, Lê Minh Quân, Phạm Văn Đồng |
Phân tích phương pháp cách mạng, tư tưởng triết học, phong cách và các quan điểm chính trị của Hồ Chí Minh |
Khoảng trống luận án giải quyết: Các công trình đi trước đã làm rõ khái niệm tư duy nói chung hoặc phân tích tư tưởng, phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập, có hệ thống về tư duy chính trị Hồ Chí Minh dưới góc độ triết học chính trị. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách đi sâu vào quá trình và phương pháp tư duy để giải mã nguồn gốc các quyết sách chính trị của Người, từ đó cung cấp phương pháp luận cho công cuộc đổi mới hiện nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cách mạng Việt Nam.
Về mặt khái niệm công cụ:
- Tư duy được định nghĩa là giai đoạn nhận thức lý tính, diễn ra trong bộ não người thông qua các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa để tìm ra quy luật, bản chất của sự vật. Nội dung tư duy gồm thu nhận, xử lý thông tin và sản sinh tri thức mới; hình thức biểu hiện là ngôn ngữ.
- Tư duy chính trị là cách nghĩ về con đường, phương thức đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước, giải quyết các mối quan hệ lợi ích giữa giai cấp, dân tộc và nhân loại; định hướng hành động tập thể thông qua các quyết sách chính trị.
- Tư duy chính trị Hồ Chí Minh là hoạt động diễn ra trong bộ óc của Người nhằm đưa ra các quan điểm và hành vi chính trị giải đáp thực tiễn cách mạng Việt Nam; là cách nghĩ về việc giành, giữ nền độc lập cho dân tộc và mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tư duy chính trị Hồ Chí Minh thể hiện sự thống nhất giữa nội dung tư duy, phương pháp tư duy và phong cách tư duy; là tư duy biện chứng "vượt gộp", kế thừa tinh hoa Đông - Tây trên nền tảng bản sắc dân tộc Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
Luận án hoàn toàn thuộc hướng nghiên cứu định tính, sử dụng hệ thống các phương pháp chuyên ngành:
- Phương pháp luận: Biện chứng duy vật và quan điểm lịch sử cụ thể.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp lịch sử và lôgíc; so sánh; phân tích và tổng hợp; gắn lý luận với thực tế; phân tích văn bản (textual analysis) các trước tác chính trị; phỏng vấn chuyên gia.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Toàn tập các tác phẩm, bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh (tiêu biểu như Đường kách mệnh, Bản án chế độ thực dân Pháp, Sửa đổi lối làm việc, Di chúc...).
- Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam (tập trung từ Đại hội VI năm 1986 đến giai đoạn thực hiện luận án).
- Các công trình chuyên khảo, bài báo khoa học, từ điển triết học và dữ liệu lịch sử trong và ngoài nước về tư duy và chính trị học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài qua ba nhóm nội dung: nhóm các công trình nghiên cứu về tư duy (trong đó phân định giữa tư duy trừu tượng, tư duy phức hợp và tư duy biện chứng duy vật); nhóm các nghiên cứu về tư tưởng chính trị và tư duy chính trị (chỉ ra sự khác biệt giữa tư duy về chính trị và tư duy chính trị, xác định 6 đặc trưng cơ bản của tư duy chính trị); nhóm nghiên cứu liên quan đến tư duy, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh (tổng thuật các luận điểm của các nhà nghiên cứu trong nước về phương pháp luận và phong cách Hồ Chí Minh). Chương này xác lập cơ sở kế thừa tri thức và chỉ rõ tính cấp thiết của việc tiếp cận tư duy chính trị Hồ Chí Minh như một đối tượng nghiên cứu độc lập.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về tư duy chính trị và các yếu tố hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh
Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ và phân tích hệ thống các nhân tố khách quan, chủ quan hình thành nên tư duy chính trị Hồ Chí Minh:
Về lý luận: Làm sáng tỏ bản chất của tư duy, tư duy chính trị và tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Khẳng định tư duy chính trị Hồ Chí Minh lấy quyền lợi của nhân dân làm mục tiêu cốt lõi; quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bộ máy nhà nước thực thi sự ủy quyền của nhân dân và chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân.
Về các yếu tố hình thành:
- Yếu tố khách quan:
- Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp làm biến đổi sâu sắc kết cấu kinh tế - xã hội, xuất hiện mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân xâm lược. Khủng hoảng về con đường cứu nước của các sĩ phu phong kiến và dân chủ tư sản đặt ra yêu cầu cấp bách về một hệ tư tưởng mới. Truyền thống gia đình Nho học yêu nước và quê hương xứ Nghệ hun đúc ý chí cứu nước của Nguyễn Tất Thành.
- Thực tiễn chính trị thế giới đầu thế kỷ XX: Chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, xác lập hệ thống thuộc địa toàn cầu; phong trào cách mạng chuyển từ dân chủ kiểu cũ sang dân chủ kiểu mới; thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản tác động trực tiếp đến sự chuyển biến lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc.
- Tiền đề tư duy - lý luận:
- Tư duy chính trị truyền thống Việt Nam: Nhu cầu cố kết cộng đồng lúa nước (mô hình tam cấp: nhà - làng - nước), tư tưởng yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, "khoan thư sức dân" và "lấy dân làm gốc" (từ Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo đến Nguyễn Trãi).
- Tư duy chính trị phương Đông: Kế thừa quan điểm "dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" của Nho giáo, coi cán bộ là công bộc của dân; kết hợp tinh thần từ bi, bình đẳng của Phật giáo và tư tưởng hòa đồng của Lão giáo.
- Tư duy chính trị phương Tây và chủ nghĩa Mác - Lênin: Tiếp thu các giá trị tiến bộ về tự do, bình đẳng, bác ái từ Cách mạng Pháp (1789), Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (1776); tiếp thu phép biện chứng duy vật và lý luận cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Yếu tố chủ quan: Năng lực trí tuệ bẩm sinh, khả năng quan sát thực tiễn nhạy bén, bản lĩnh chính trị độc lập, quá trình tự học tập và rèn luyện qua thực tế hoạt động tại nhiều châu lục.
Chương 3: Những đặc điểm chủ yếu của tư duy chính trị Hồ Chí Minh
Chương 3 là chương trọng tâm, phân tích hai bình diện gắn kết chặt chẽ: nội dung và quá trình/phương pháp tư duy chính trị Hồ Chí Minh:
Những điểm đặc sắc trong nội dung tư duy chính trị Hồ Chí Minh:
- Tư duy về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội: Khẳng định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu; độc lập dân tộc là tiền đề tiến lên chủ nghĩa xã hội, và chủ nghĩa xã hội là điều kiện bảo đảm vững chắc cho nền độc lập dân tộc, mang lại ấm no, tự do thực sự cho nhân dân.
- Tư duy về quyền lực thuộc về nhân dân: Xây dựng nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do nhân dân làm chủ; "bao nhiêu quyền hạn đều là của dân", cán bộ các cấp là "đầy tớ trung thành của nhân dân", kiên quyết chống đặc quyền, đặc lợi và quan liêu.
- Tư duy về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế: Chiến lược tập hợp mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trên nền tảng liên minh công - nông; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đoàn kết phong trào cách mạng giải phóng thuộc địa với phong trào công nhân ở các nước chính quốc.
- Tư duy xử lý hài hòa quan hệ giai cấp, dân tộc và nhân loại: Đặt lợi ích tối cao của dân tộc lên trên hết, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể.
Những đặc điểm chủ yếu của quá trình tư duy chính trị Hồ Chí Minh:
- Tính thực tiễn sâu sắc: Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, lấy hiệu quả thực tế làm tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý; chống bệnh giáo điều, lý luận suông xa rời đời sống.
- Tính biện chứng duy vật nhuần nhuyễn: Thể hiện qua nguyên tắc "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" — kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và hạnh phúc nhân dân (cái bất biến), linh hoạt và mềm dẻo về sách lược, phương pháp đấu tranh (cái vạn biến).
- Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và "vượt gộp": Không rập khuôn máy móc kinh nghiệm quốc tế; tổng hợp và nâng cao các giá trị văn hóa chính trị Đông - Tây trên lập trường mác-xít và tinh thần dân tộc.
- Năng lực dự báo khoa học và chớp thời cơ: Dự báo chính xác diễn tiến của các biến cố chính trị (như dự báo Cách mạng Tháng Tám, cục diện kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ); nắm vững quy luật thời, thế và lực để hành động.
- Tính giản dị, thiết thực và nhất quán: Diễn đạt các vấn đề chính trị phức tạp bằng ngôn từ mộc mạc, dễ nhớ, dễ hiểu; tư duy luôn gắn liền với hành động, nói đi đôi với làm.
Chương 4: Ý nghĩa phương pháp luận của tư duy chính trị Hồ Chí Minh với việc đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 liên hệ thực tiễn và rút ra các định hướng phương pháp luận cho công cuộc đổi mới:
Đánh giá tư duy chính trị ở Việt Nam sau gần 30 năm đổi mới:
- Thành tựu: Chuyển đổi tư duy kinh tế sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới tư duy về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; đổi mới tư duy đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động hội nhập quốc tế.
- Hạn chế và bất cập: Tư duy lý luận chính trị còn chậm so với chuyển biến thực tiễn; còn biểu hiện của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, giáo điều; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ; năng lực dự báo và xử lý các mâu thuẫn xã hội phát sinh còn nhiều lúng túng.
Ý nghĩa phương pháp luận của tư duy chính trị Hồ Chí Minh đối với đổi mới tư duy chính trị hiện nay:
- Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội: Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập toàn cầu.
- Quán triệt triệt để bài học "lấy dân làm gốc": Phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân; xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí và suy thoái trong bộ máy công quyền.
- Vận dụng phương pháp biện chứng "Dĩ bất biến, ứng vạn biến": Giữ vững nguyên tắc chiến lược nhưng linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược để xử lý các vấn đề đối nội phức tạp và quan hệ quốc tế biến động.
- Nâng cao năng lực tư duy lý luận và đổi mới công tác cán bộ: Khắc phục bệnh giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm; bồi dưỡng bản lĩnh, tư duy độc lập sáng tạo và đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ngang tầm nhiệm vụ.
| Chương |
Tên chương trong luận án |
Luận điểm và phát hiện trọng tâm |
| Chương 1 |
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án |
Hệ thống hóa 3 nhóm công trình về tư duy, tư duy chính trị và tư duy Hồ Chí Minh; xác định khoảng trống nghiên cứu chuyên biệt từ góc độ triết học chính trị. |
| Chương 2 |
Những vấn đề lý luận về tư duy chính trị và các yếu tố hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh |
Xác lập khái niệm tư duy chính trị Hồ Chí Minh; phân tích tác động từ thực tiễn Việt Nam, thế giới và tiền đề tư duy Việt Nam, phương Đông, phương Tây, Mác - Lênin. |
| Chương 3 |
Những đặc điểm chủ yếu của tư duy chính trị Hồ Chí Minh |
Khái quát 4 nét đặc sắc về nội dung (độc lập gắn với CNXH, quyền lực thuộc về dân, đại đoàn kết, xử lý quan hệ lợi ích) và 5 đặc điểm quá trình tư duy (thực tiễn, biện chứng dĩ bất biến ứng vạn biến, sáng tạo vượt gộp, dự báo chớp thời cơ, giản dị thiết thực). |
| Chương 4 |
Ý nghĩa phương pháp luận của tư duy chính trị Hồ Chí Minh với việc đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam hiện nay |
Đánh giá thành tựu và hạn chế tư duy chính trị sau gần 30 năm đổi mới; đề xuất 4 định hướng phương pháp luận nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và phẩm chất cán bộ. |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học (lý luận):
- Luận án góp phần xây dựng và hoàn thiện khung lý luận về tư duy, tư duy chính trị và tư duy chính trị Hồ Chí Minh dưới góc độ triết học chính trị.
- Phân tích và làm rõ một cách có hệ thống các yếu tố khách quan (thực tiễn dân tộc, thời đại) và nhân tố tư duy - lý luận (truyền thống Việt Nam, văn hóa phương Đông, phương Tây, chủ nghĩa Mác - Lênin) tác động đến quá trình hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh.
- Khái quát các đặc điểm chủ yếu về nội dung và quá trình tư duy chính trị của Hồ Chí Minh, luận giải rằng cội nguồn của những sáng tạo trong tư tưởng và hành vi chính trị của Người bắt nguồn từ chính phương pháp và năng lực tư duy.
- Đóng góp luận cứ khoa học vào sự phát triển của phân ngành tư tưởng chính trị Việt Nam thông qua việc khảo sát trường hợp tư duy chính trị của lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Khẳng định giá trị thực tiễn và tính thời sự của tư duy chính trị Hồ Chí Minh, làm cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước vận dụng vào sự nghiệp đổi mới đất nước giai đoạn hiện nay.
- Cung cấp nguồn tư liệu và luận cứ khoa học phục vụ công tác giảng dạy, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực tư duy chính trị và định hướng hành vi chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Kiến nghị và giải pháp:
- Tiếp tục đổi mới tư duy chính trị của Đảng, kiên định nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng không ngừng vận dụng sáng tạo, phù hợp với biến đổi thực tiễn.
- Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân; thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, ngăn chặn sự tha hóa của quyền lực nhà nước.
- Đổi mới căn bản nội dung và phương pháp giáo dục lý luận chính trị, gắn đào tạo lý luận với giải quyết các vấn đề thực tiễn của địa phương, đất nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở góc độ triết học chính trị, tập trung vào việc tìm hiểu các dấu hiệu đặc trưng trong tư duy của Hồ Chí Minh qua tác phẩm và hành vi chính trị; không tiếp cận cấu trúc, hình thái hay cơ chế hoạt động tâm lý, sinh lý thần kinh của tư duy.
- Nguồn tài liệu chuyên biệt bàn trực tiếp về "tư duy chính trị Hồ Chí Minh" trong y văn còn tản mạn, dẫn đến việc nghiên cứu phải kế thừa gián tiếp từ các công trình thuộc ngành Hồ Chí Minh học, lịch sử Đảng và triết học đại cương.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Đi sâu nghiên cứu sự vận dụng tư duy chính trị Hồ Chí Minh vào các lĩnh vực chuyên biệt như hoạch định chính sách đối ngoại, quản trị công và cải cách tư pháp hiện nay.
- Mở rộng so sánh phương pháp tư duy chính trị Hồ Chí Minh với tư duy chính trị của các nhà lãnh đạo chính trị tiêu biểu cùng thời trên thế giới nhằm làm rõ hơn tính tương đồng và nét đặc thù.
Giá trị tham khảo
Giá trị đối với người làm công tác nghiên cứu và đào tạo:
- Là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Chính trị học, Triết học, Hồ Chí Minh học, Lịch sử Đảng và Xây dựng Đảng.
- Chương 1 cung cấp tổng quan tài liệu đa dạng về tư duy và tư duy chính trị Đông - Tây, hữu ích cho việc xây dựng cơ sở lý thuyết trong các nghiên cứu chuyên ngành.
- Chương 2 và Chương 3 cung cấp khung phân tích về mối quan hệ giữa tư duy, tư tưởng và hành vi chính trị.
Giá trị đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách:
- Cung cấp phương pháp luận giúp cán bộ lãnh đạo rèn luyện phong cách tư duy biện chứng, khắc phục thói quen tư duy kinh nghiệm, giáo điều hoặc bảo thủ.
- Chương 4 cung cấp những gợi mở thiết thực về việc vận dụng phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" và bài học "lấy dân làm gốc" vào việc xử lý các tình huống phức tạp trong quản lý kinh tế - xã hội và bảo đảm đồng thuận xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "tư duy chính trị" với "tư duy về chính trị" dựa trên các tiêu chí nào?
Theo tổng quan luận án, "tư duy về chính trị" đề cập đến các vấn đề mang tính đạo đức, tư tưởng bền vững liên quan đến các giới hạn tự do, bình đẳng hay nguồn gốc chiến tranh trong cộng đồng chính trị. Trong khi đó, "tư duy chính trị" là một hệ thống tư duy - thực tiễn liên quan trực tiếp đến hành động tập thể, thể hiện qua ít nhất 6 đặc trưng: sắp xếp thứ tự ưu tiên các mục tiêu xã hội; huy động sự ủng hộ của công chúng; phản ánh sự ổn định hoặc xung đột nhóm; ra quyết định và hoạch định chính sách chỉ đạo tập thể; sử dụng quyền lực ngôn từ và kỹ năng thuyết phục; điều chỉnh ranh giới thẩm quyền giữa các lĩnh vực xã hội.
2. Tại sao luận án khẳng định tư duy chính trị Hồ Chí Minh là tư duy "vượt gộp"?
Luận án chỉ ra rằng tư duy chính trị Hồ Chí Minh không giới hạn ở một hệ tư tưởng đơn lẻ mà là sự kết hợp, kế thừa và phát triển chọn lọc giữa tư duy biện chứng mác-xít với cốt cách tư duy duy cảm Á Đông và tư duy duy lý phương Tây; giữa truyền thống văn hóa làng xã Việt Nam với các giá trị dân chủ của nhân loại. Thuật ngữ "vượt gộp" thể hiện việc vượt lên trên những hạn chế của các hệ thống tư tưởng truyền thống và tư sản để tích hợp thành một hệ thống phương pháp luận mới, mang bản sắc dân tộc và giải quyết được yêu cầu thực tiễn cách mạng Việt Nam.
3. Phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" được luận giải dưới góc độ phương pháp tư duy như thế nào?
Trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh, "dĩ bất biến, ứng vạn biến" là sự biểu hiện của tư duy biện chứng duy vật. "Bất biến" là mục tiêu chiến lược tối cao không bao giờ thay đổi: độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân. "Vạn biến" là sự linh hoạt, mềm dẻo, uyển chuyển về sách lược, phương thức, bước đi và sự nhân nhượng có nguyên tắc tùy thuộc vào diễn biến cụ thể của thời, thế và lực nhằm đạt được mục tiêu bất biến đó.
4. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể nào để phân tích tư duy chính trị Hồ Chí Minh?
Do đối tượng nghiên cứu thuộc lĩnh vực triết học chính trị, luận án áp dụng hoàn toàn phương pháp định tính, bao gồm: phương pháp lịch sử và lôgíc; so sánh; phân tích và tổng hợp; gắn lý luận với thực tiễn; phân tích văn bản (khảo sát các văn kiện, tác phẩm, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh) và phương pháp phỏng vấn chuyên gia. Luận án không sử dụng các phương pháp đo lường định lượng thống kê.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Tư duy chính trị Hồ Chí Minh - những đặc điểm chủ yếu và ý nghĩa phương pháp luận" của tác giả Nguyễn Thị Thanh Dung đã phân tích có hệ thống các bình diện lý luận, tiền đề hình thành và các đặc điểm nội dung, quá trình tư duy chính trị Hồ Chí Minh dưới góc độ triết học chính trị. Công trình khẳng định tư duy chính trị của Người là sự thống nhất giữa tính thực tiễn, tính biện chứng duy vật "dĩ bất biến, ứng vạn biến" và tính sáng tạo vượt gộp trên nền tảng bản sắc dân tộc, lấy lợi ích nhân dân làm cứu cánh. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần lấp đầy khoảng trống học thuật trong phân ngành tư tưởng chính trị Việt Nam mà còn cung cấp cơ sở phương pháp luận thiết thực cho công cuộc đổi mới tư duy chính trị và đào tạo cán bộ ở nước ta hiện nay.