LỜI MỞ ĐẦU Tóm tắt nội dung Bài luận văn này xem xét tác động của viện trợ nước ngoài đến sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thông qua mức độ tự do hóa tài chính. Trong đó, biến chỉ số tự do hóa tài chính được người viết sử dụng là chỉ số hội nhập tài chính của tác giả Lane&Milesi-Ferretti. Chỉ số hội nhập tài chính này là chỉ số Kaopen mang tính chất de facto 1. Trong bài luận văn này, người viết sử dụng mô hình kinh tế lượng hồi quy để kiểm định mối quan hệ giữa viện trợ- tăng trưởng, từ kết quả hồi quy đó, người viết đánh giá tác động của viện trợ là tích cực hay tiêu cực thông qua mức độ tự do hóa tài chính lên tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Trong phần cuối của bài luận văn, người viết đề xuất một số định hướng chính sách về cải cách lĩnh vực tài chính, tăng cường hiệu quả viện trợ và hạn chế tiêu cực trong việc sử dụng ODA tại Việt Nam nhằm tạo ra môi trường thuận lợi để tự do hóa tài chính có thể hoàn thành tốt vai trò của mình trong việc thu hút nguồn vốn viện trợ nước ngoài góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. 1 De facto là một thành ngữ trong tiếng Latinh có nghĩa là "trên thực tế" hay "theo thông lệ". Thông thường nó được sử dụng ngược với de jure (có nghĩa là "theo luật định") khi nói đến các vấn đề của lĩnh vực luật pháp, nhà nước, hay kỹ thuật (chẳng hạn các tiêu chuẩn) được tìm thấy trong thực tiễn của cộng đồng do được tạo ra hay phát triển lên mà không có (hoặc không trái) các quy định của luật điều chỉnh. Khi thảo luận về các trạng thái pháp lý thì de jure đề cập tới điều mà luật ghi nhận, trong khi de facto đề cập tới điều xảy ra trong thực tế, và chúng có thể khác nhau.
Thuật ngữ de facto cũng có thể sử dụng khi không tồn tại luật hay tiêu chuẩn tương ứng, nhưng thông lệ chung đã được thiết lập rõ ràng, mặc dù có thể là không phải phổ biến rất rộng.org) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của bài luận văn này là đóng góp một góc nhìn, một quan điểm mới về vai trò của tự do hóa tài chính tác động đến mối quan hệ viện trợ-tăng trưởng tại Việt Nam. Tự bản thân dòng vốn viện trợ có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế nhưng thông qua mức độ tự do hóa tài chính thì tác động đó có thể sẽ thay đổi theo chiều thuận hoặc ngược lại. Tác động của tự do hóa tài chính có thể làm cho hiệu quả của viện trợ sẽ tốt hơn hay là giảm đi đối với sự tăng trưởng kinh tế. Từ kết quả hồi quy, người viết sẽ phân tích những nguyên nhân gây ra những tác động đó gắn liền với thực trạng của nền kinh tế Việt Nam.
Phƣơng pháp nghiên cứu bài luận văn Trong bài luận văn, người viết đã sử dụng hai phương pháp đó là: phương pháp phân tích, phương pháp định lượng và hồi quy. Từ các nguồn dữ liệu của các trang web của IMF, WB, đặc biệt là từ nguồn dữ liệu do tác giả Lane&Milesi-Ferretti tổng hợp để tính toán chỉ số Kaopen (tính chất de facto), công bố trong khoảng thời gian 13 năm từ 1995 đến 2007, người viết đã tiến hành tổng hợp số liệu, tính toán biến tăng trưởng kinh tế, biến cung vốn, biến tự do hóa tài chính, biến viện trợ nước ngoài, biến tương tác giữa tự do hóa tài chính và viện trợ. Từ những chỉ số này người viết đã chạy mô hình hồi quy để kiểm định tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa viện trợ-tăng trưởng từ đó đánh giá tác động trực tiếp của viện trợ đến tăng trưởng kinh tế cũng như tác động gián tiếp của viện trợ thông qua tự do hóa tài chính lên tăng trưởng kinh tế như thế nào. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Các biến2 được sử dụng trong mô hình bao gồm: biến phụ thuộc là biến tăng trưởng kinh tế (EDt), các biến độc lập bao gồm biến cung vốn (KAPt), biến tự do hóa tài chính (FLt), biến viện trợ (AIDt), biến tương tác giữa tự do hóa tài chính và viện trợ (FLt x AIDt).
Đồng thời, việc phân tích thực trạng nền kinh tế Việt Nam với những số liệu thống kê do Bộ KHĐT công bố sẽ giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn quá trình tự do hóa tài chính cũng như tình hình huy động và sử dụng vốn ODA đã tác động đến tăng trưởng kinh tế như thế nào. Từ đó, người viết sẽ phân tích những nguyên nhân và đưa ra những nhận định nhằm giải thích những lý do đã làm cho hiệu quả của viện trợ tác động tích cực (hoặc tiêu cực) đến tăng trưởng kinh tế. Cuối cùng từ những nguyên nhân đó, người viết đề xuất một số định hướng chính sách về cải cách lĩnh vực tài chính, nâng cao hiệu quả và hạn chế tiêu cực trong quá trình sử dụng ODA nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. 2 Biến phụ thuộc: Tăng trưởng kinh tế (Economic development – EDt), biến giải thích: Cung vốn (Capital Stock – KAPt), tự do hóa tài chính (Financial liberalization – FLt), viện trợ nước ngoài (Foreign aid – AIDt) và tương tác giữa tự do hóa tài chính và viện trợ nước ngoài (The interaction term between financial liberalization and foreign aid (FLt x AIDt) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Nội dung bài luận văn bao gồm Chương đầu tiên trình bày tóm tắt những quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới về viện trợ, tăng trưởng, chính sách, tự do hóa tài chính và bài nghiên cứu nền tảng của tác giả James B.Ang được người viết lựa chọn làm ý tưởng đề xuất cho đề tài của mình “Tự do hóa tài chính và mối quan hệ giữa viện trợ-tăng trưởng tại Việt Nam” Ở chương tiếp theo, người viết sử dụng dữ liệu thống kê về tăng trưởng, vốn, viện trợ, tự do hóa tài chính đã được tổng hợp, tính toán để chạy mô hình kiểm định mối quan hệ viện trợ-tăng trưởng thông qua tác động của tự do hóa tài chính; cuối cùng là những định hướng chính sách như là cải cách lĩnh vực tài chính, tăng cường hiệu quả viện trợ và hạn chế tiêu cực trong việc sử dụng ODA tại Việt Nam.
Kết cấu của bài luận văn như sau Chƣơng 1: Những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về tự do hóa tài chính, viện trợ và tăng trƣởng. Chƣơng 2: Kiểm định tác động của tự do hóa tài chính lên mối quan hệ viện trợ-tăng trƣởng tại Việt Nam Chƣơng 3: Định hƣớng chính sách về cải cách lĩnh vực tài chính và nâng cao hiệu quả viện trợ tại Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1. NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH, VIỆN TRỢ VÀ TĂNG TRƢỞNG. Mặc dù có rất nhiều quốc gia đang phát triển nhận được số lượng lớn viện trợ của nước ngoài trong vài thập kỷ qua, nhưng không có sự đánh giá nhất trí về tác động của viện trợ lên sự tăng trưởng.
Có ba nhóm quan điểm chính tranh luận với nhau về hiệu quả của viện trợ và các nhân tố liên quan ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Quan điểm “viện trợ thúc đẩy tăng trƣởng chỉ trong môi trƣờng chính sách tốt” Về quan điểm này, có hai bài nghiên cứu tiêu biểu của hai nhóm tác giả Burnside và Dollar Tác giả Craig Burnside, University of Virginia và David Dollar, World Bank (2004) với bài nghiên cứu “Aid, Policies, and Growth: Revisiting the Evidence”, worldbank policy research paper, number O-2834. Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả cho rằng tác động của viện trợ phụ thuộc vào chất lượng của thể chế và chính sách của chính phủ. Sự tương tác giữa viện trợ và chất lượng thể chế có mối quan hệ tích cực bền vững với tăng trưởng thông qua sử dụng phương pháp hồi quy các biến đo lường.
Giả thiết của bài nghiên cứu được chứng minh bằng việc sử dụng dữ liệu của thập niên 90 cho thấy rằng khi phân bổ viện trợ cho các nước thu nhập thấp thì những nước có chất lượng thể chế tốt hơn sẽ được phân bổ nhiều hơn. Kết quả của bài nghiên cứu hỗ trợ cho quan điểm: chính sách yếu kém và nạn tham nhũng sẽ làm hạn chế tác động của hỗ trợ tài chính lên tăng trưởng kinh tế. Cũng trong bài viết của chính hai ông vào năm 2000 (viện trợ, chính sách và tăng trưởng) cũng đưa ra bằng chứng về việc viện trợ thúc đẩy nhanh tăng trưởng trong các nước đang phát triển có chính sách và thể chể tốt nhưng lại ít LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hiệu quả và không có hiệu quả đối với những nước có chính sách và thể chế kém. Ở vùng Sahara Châu Phi, 84% ý kiến của những nhà lập chính sách đồng ý với quan điểm rằng: vì tham nhũng mà sự trợ giúp viện trợ trong các nước đang phát triển hầu như bị lãng phí.
Tác giả Paul Collier and David Dollar, Development research group, World Bank (2001) với bài nghiên cứu “Can the World cut poverty in half, How Policy reform and effective aid meet the International development goals”. Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả cho rằng giảm đói nghèo trên thế giới, ở một khu vực hay một quốc gia, phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của chính sách kinh tế. Trong đó, viện trợ cũng thúc đẩy nhanh tiến trình này. Viện trợ cũng giúp chính phủ trong việc cung cấp các dịch vụ công cộng và tăng lợi ích đối với chính sách tốt, và cùng lúc chính sách tốt lại tăng tác động của viện trợ, do đó kết hợp giữa chính sách tốt và viện trợ sẽ tạo ra những kết quả tốt đối với tăng trưởng và giảm nghèo đói.
Kết quả của bài nghiên cứu chỉ ra rằng viện trợ tăng lên khi chính sách được cải thiện bởi vì trong môi trường chính sách tốt hơn thì viện trợ có thể được sử dụng hiệu quả hơn. Mặc dù giả định chính sách độc lập với viện trợ nhưng thực tế thì viện trợ lại làm tăng lợi ích cho cuộc cải cách, mức độ viện trợ cao tạo động lực cho các nhà cải cách chính sách, nếu tăng viện trợ hợp lý thì chính sách tốt được duy trì nhưng đến một mức nào đó thì lợi ích của viện trợ đối với những quốc gia có chính sách tốt lại trở nên không đáng kể.