chương I của thiên I trong Quyển thứ tư. Khác với Quốc triều Hình luật và Bộ luật Gia Long, đến thời kì này, bộ Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật đã đưa ra khái niệm pháp lý về khế ước, chủ yếu dựa trên Bộ luật Dân sự Pháp. Theo đó, khế ước là một hiệp ước của một hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì. Theo điều 664 Dân luật Bắc kỳ và Điều 680 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật thì: Hiệp ước do một người hay nhiều người đồng ý với nhau để lập ra hay chuyển đi, đổi đi hay tiêu đi một quyền lợi thuộc về của cải hay về người.
Từ khái niệm này, có thể thấy khế ước thực chất là sự thỏa thuận giữa ít nhất hai người để xác lập quyền, nghĩa vụ của người này đối với người khác và ngược lại. Khái niệm khế ước này về cơ bản giống khái niệm về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự của nước ta hiện nay, trừ đối tượng của nghĩa vụ là người theo quan niệm của pháp luật phong kiến thuộc địa. Sau năm 1954, đất nước bị chia thành hai miền. Ở miền Nam, chính quyền Sài Gòn đã cho ra đời Bộ dân luật quy định về các vấn đề dân sự cơ bản trong đó có khế ước – hợp đồng.
Tiếp nối quan điểm từ những bộ dân luật trước đó, khế ước trong Bộ Dân luật của Chính phủ Việt Nam cộng hòa cũng coi khế ước là hành vi pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ dân sự: Khế ước hay hiệp ước là một hành vi pháp lý do sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều người để tạo lập, di chuyển, biến cải hay tiêu trừ một quyền lợi, đối nhân hoặc đối vật. Ở miền Bắc, do phải tập trung cho cuộc kháng chiến chống Mỹ và do thực hiện cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp nên pháp luật dân sự không có điều kiện xây dựng và phát triển. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, trong khoảng 10 năm, pháp luật dân sự vẫn ở vào tình trạng kém phát triển. Phải đến cuối những năm 80 của thế kỉ XX, đất nước thống nhất, tình hình chính trị đã có phần ổn định thì việc ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh ngày một nhiều, đa dạng và phức tạp trong xã hội mới trở nên bức thiết.
Rất nhiều văn bản pháp luật về dân sự được ban hành trong thời kỳ này nhưng đến năm 1991, đất nước ta mới có văn bản chính thức đầu tiên quy định về hợp đồng dân sự, đó là Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự. Pháp lệnh đã đưa ra khái niệm hợp đồng dân sự một cách khá chi tiết tại điều 1 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991: Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hay không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng. Tuy nhiên, chính việc liệt kê chi tiết này dẫn đến sự thiếu sót và dễ “lạc hậu” của pháp luật trong khi các mối quan hệ xã hội ngày càng phát triển. Do đó, đến Bộ luật Dân sự năm 1995, các nhà làm luật đã định nghĩa lại một cách khái quát và toàn diện hơn tại điều 394 BLDS năm 1995: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về sự xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Sau đó, BLDS năm 2005 đã giữ nguyên khái niệm này. Khái niệm hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2005 đã nêu lên những yếu tố cơ bản nhất của hợp đồng: Bản chất pháp lý của hợp đồng, chủ thể của hợp đồng và mục đích của hợp đồng. Bản chất của hợp đồng cũng như các quan điểm của các nước khác trên thế giới vẫn là sự thỏa thuận giữa các bên tham gia giao kết; chủ thể của hợp đồng phải có từ hai bên trở lên; về mục đích của hợp đồng, quy định khá rộng khi mục đích của sự thỏa thuận là nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, quy định này thể hiện tính 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bao quát của pháp luật dân sự. Bởi vì, tại Điều 1 Pháp lệnh Hợp đồng Dân sự năm 1991, phạm vi hợp đồng dân sự lại giới hạn trong việc đáp ứng “nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng”.
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, rõ ràng hợp đồng dân sự không thể chỉ có vai trò điều chỉnh quan hệ phát sinh trong đời sống sinh hoạt tiêu dùng hằng ngày của nhân dân mà còn là công cụ pháp lý phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Mặc dù vậy, trong giai đoạn này vẫn tồn tại Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 song song với Bộ luật Dân sự năm 1995 nên sự phân biệt giữa hai loại hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế chủ yếu dựa trên chủ thể tham gia hợp đồng và mục đích giao kết hợp đồng. Khi Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời, phạm vi điều chỉnh của pháp luật hợp đồng dân sự đã được thống nhất và mở rộng; theo đó, bất cứ thỏa thuận nào giữa các chủ thể theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự đều được coi là hợp đồng dân sự và được điều chỉnh theo quy định chung về hợp đồng dân sự của Bộ luật Dân sự năm 2005 (kể cả hợp đồng kinh doanh thương mại, lao động). Như vậy, dù có khác biệt về vị trí địa lý hay thời gian thì khái niệm về hợp đồng vẫn có những điểm chung nhất định.
Khái niệm hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 của Việt Nam đã có cách thức tiếp cận đúng đắn khi định nghĩa hợp đồng một cách khái quát nhưng vẫn thể hiện được bản chất của hợp đồng. Cơ sở lý luận và ý nghĩa của quyền tự do giao kết Hợp đồng dân sự 1. Thuyết tự do ý chí - cơ sở lý luận của quyền tự do giao kết hợp đồng dân sự Hợp đồng là một loại giao ước mà đặc điểm chung của chúng là sự thống nhất ý chí, ý chí có vai trò cực kỳ quan trọng đối với hợp đồng. Nó được 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xem là cực kỳ quan trọng bởi nó là yếu tố cơ bản, không thể thiếu được để hình thành hợp đồng, từ đó làm phát sinh ra các nghĩa vụ pháp lý.Vì vậy, “dù ở hệ thống pháp luật nào, người ta cũng đều thừa nhận nền tảng của luật hợp đồng là tự do ý chí, có nghĩa tự do ý chí là vấn đề trọng yếu của hợp đồng [5].
Thuyết tự do ý chí xuất hiện từ thế kỷ thứ 18 và nằm trong hệ thống các quan điểm của trào lưu triết học ánh sáng. Nội dung của thuyết này xuất phát từ quan điểm cho rằng, ý chí của con người là tối thượng và tự chủ, chỉ ra các hành vi xuất phát từ ý chí tự chủ của một người mới có hiệu lực ràng buộc đối với người đó. Một người chỉ bị ràng buộc khi người đó muốn như vậy và ràng buộc theo cách người đó muốn. Một hợp đồng sẽ công bằng khi các bên được tự do thể hiện ý chí của mình.
Mỗi bên tham gia hợp đồng nhằm thỏa mãn những lợi ích riêng của mình trong phạm vi phù hợp với lợi ích chung. Học thuyết này nhằm tới mục đích công bằng giữa các cá nhân thông qua tự do thương thuyết, và phát triển kinh tế thông qua tự do cạnh tranh [17]. Do đó, hợp đồng với bản chất được xác lập trên cơ sở thỏa thuận, phải được coi là kết quả của sự thống nhất ý chí tự nguyện của các bên, là nguồn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên. Theo nguyên tắc tự do ý chí, để bảo đảm công bằng trong quan hệ hợp đồng, bảo đảm lợi ích của các bên như họ mong muốn, ý chí của các bên phải được thể hiện một cách độc lập, xuất phát từ động cơ và lợi ích của họ, do họ tự quyết định chứ không phụ thuộc và yếu tố bên ngoài, không phụ thuộc vào pháp luật, ý chí của các bên được thể hiện thông qua các hành vi pháp lý của họ nhất là hợp đồng.
Về mặt lý luận, thuyết tự do ý chí dẫn đến các hệ quả pháp lý trong giao kết hợp đồng: Một là, quyền tự do giao kết hợp đồng thể hiện ở các điểm cơ bản sau: - Hợp đồng phải là kết quả của sự tự do thỏa thuận, là sự thể hiện ý chí 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đích thực của các bên. - Các bên tự do xác định nội dung của Hợp đồng, tự do thỏa thuận các điều kiện của hợp đồng. Các quy định về trật tự công cộng chỉ được áp dụng trong trường hợp ngoại lệ đặc biệt. - Chỉ cần các bên đạt được thỏa thuận với nhau là coi như hợp đồng đã được ký kết.
Việc thể hiện thỏa thuận trên một hình thức nhất định không phải là yếu tố quan trọng. Thường là thỏa thuận thể hiện ý chí chung có thể được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào. - Các bên có quyền tự do quyết định việc giải quyết bất đồng khi có tranh chấp. Hai là, hiệu lực của hợp đồng được thể hiện ở các điểm sau: Nguyên tắc tự do ý chí dẫn đến hiệu lực bắt buộc của hợp đồng.
Khi hợp đồng được giao kết thì nó có giá trị bắt buộc thực hiện như quy định pháp luật đối với các bên, bởi vì đó là mong muốn của các bên, các bên phải chịu trách nhiệm về cam kết của mình. Để bảo đảm công bằng và công lý, các bên phải tôn trọng và chịu trách nhiệm về tuyên bố ý chí của mình và thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết, không được đơn phương rút khỏi hợp đồng, không được bội ước. Việc thay đổi, bổ sung hợp đồng chỉ có thể được thực hiện bởi sự thỏa thuận của các chủ thể mà không ai có quyền can thiệp vào quan hệ của họ, cũng như không có quyền làm thay đổi ý chí của họ.