phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tự đánh giá của học sinh trung học phổ thông chuyên Khoa học tự nhiên-Đại học Quốc gia Hà Nội Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng tự đánh giá của học sinh THPT chuyên KHTN-ĐHQGHN 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN KHOA HỌC TỰ NHIÊN-ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 1.Tổng quan một số nghiên cứu về tự đánh giá và tự đánh giá của học sinh trung học phổ thông Trong lĩnh vực Tâm lý học, tự đánh giá là một vấn đề đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Chính vì vậy, có nhiều cách tiếp cận cũng nhƣ các quan điểm khác nhau trong nghiên cứu về tự đánh giá. Chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu định hƣớng cho việc tiếp cận các vấn đề có liên quan tới tự đánh giá nói chung cũng nhƣ tự đánh giá của học sinh trung học phổ thông nói riêng. Một số nghiên cứu ở nƣớc ngoài Có thể nói, tự đánh giá là một trong những nhu cầu rất cơ bản của mỗi ngƣời.
Maslow (2004) khẳng định: “ Tất cả các cá nhân trong xã hội của chúng ta (trừ một vài trƣờng hợp bệnh lý) đều có nhu cầu và mong muốn đánh giá cao, ổn định và bền vững về chính họ, nhu cầu tự tôn hay tự đánh giá bản thân và đánh giá ngƣời khác. Việc thỏa mãn nhu cầu tự đánh giá đƣa đến cảm giác tự tin vào bản thân, cảm giác về giá trị, về sức mạnh, năng lực, khả năng, cảm giác về sự hữu ích và cần thiết của bản thân trong thế giới. Sự hụt hẫng các nhu cầu này có thể dẫn đến cảm giác tự ti, yếu đuối và bất lực”. [41] Khi bàn về thuật ngữ tự đánh giá bản thân, ngƣời ta thƣờng hay đề cập đến 2 mô hình lý thuyết là mô hình một chiều cạnh và mô hình đa chiều cạnh.
Mô hình lý thuyết một chiều cạnh quan niệm rằng tự đánh giá là một khái niệm mang tính tổng thể, nó tƣơng ứng với sự đánh giá tổng quát nhất mà một cá nhân có về chính họ. Các công trình đầu tiên có cách tiếp cận theo mô hình này có thể kể đến là công trình nghiên cứu của Coopersmith, 1964/1967; Piers và Harris, 1964. Các tác giả này đã chú trọng đến tự đánh giá của chủ thể trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống nhƣ thành tích 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học tập, mối quan hệ với bạn, mối quan hệ gia đình song họ lại chỉ chú trọng đến một điểm số duy nhất cho toàn bộ thang đo, và điểm số này tƣơng ứng với mức độ tự đánh giá của cá nhân. Đồng thuận với quan điểm này, Rosenberg (1965) cũng đã nhìn nhận tự đánh giá bản thân của cá nhân nhƣ một thái độ tích cực hay tiêu cực về bản thân họ.
Và do đó, theo Rosenberg, tự đánh giá bản thân có 2 nội hàm khác nhau: một là dành cho những ngƣời họ nghĩ rằng họ là “rất tốt”, tức là họ tự đánh giá cao hơn những ngƣời khác, và một là dành cho những ngƣời cho rằng họ chỉ “đủ tốt” mà thôi. Trên cơ sở này, Rosenberg đã đề xuất thang đo tự đánh giá bản thân với 10 items, trong đó bao gồm 5 items có nội dung tự đánh giá theo hƣớng tích cực và 5 items có nội dung tự đánh giá theo hƣớng tiêu cực. Thang đo cho phép đạt đƣợc một điểm số duy nhất, tƣơng ứng với mức độ tự đánh giá bản thân của mỗi cá nhân.[38] Thực tế cho thấy rằng mô hình một chiều cạnh này có nhiều hạn chế, bởi lẽ, để khẳng định sự tồn tại của bản thân, chủ thể phải tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội nói chung, cũng nhƣ đời sống nghề nghiệp nói riêng. Vì vậy Harter (1982) đã phê phán mô hình này.
Theo bà, mô hình một chiều cạnh chỉ mang lại cho chúng ta một cái nhìn tổng thể, đôi khi là phiến diện, mà không cho chúng ta thấy đƣợc hết sự linh hoạt của chủ thể trong việc tự đánh giá trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống. Harter cho rằng cần phải đứng trên quan điểm của mô hình đa chiều cạnh để nhìn nhận về tự đánh giá bản thân của mỗi ngƣời. Hiện nay, hầu hết các nhà nghiên cứu trên thế giới đều theo quan điểm đa chiều cạnh này. Theo đó, họ cho rằng tự đánh giá bản thân nói chung chính là kết quả sự kết hợp của việc tự đánh giá bản thân của chủ thể trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống.[36] Đứng trên lập trƣờng này, xuất phát từ ý tƣởng từ những năm 1965, chính Rosenberg (1995) cũng đã có những thay đổi trong cách tiếp cận vấn đề tự đánh giá bản thân.
Thông qua công trình nghiên cứu trên 1886 học sinh trung học phổ thông (lớp 10), Rosenberg và cộng sự đã cho thấy sự tồn tại 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một mối liên hệ qua lại giữa tự đánh giá bản thân tổng thể và tự đánh giá bản thân trong một lĩnh vực cụ thể (ví dụ trong lĩnh vực học tập với cái tôi học đƣờng) của mỗi ngƣời. Nhóm tác giả này khẳng định rằng, tự đánh giá bản thân trong từng lĩnh vực thì phù hợp hơn cho khía cạnh hành vi, trong khi đó tự đánh giá bản thân nói chung thì phù hợp hơn cho khía cạnh khỏe mạnh về mặt tâm trí của mỗi ngƣời. Nhƣ vậy, rõ ràng, đối với các tác giả này, tự đánh giá đã trở thành vừa là một chiều cạnh, vừa là đa chiều cạnh.[39] Trên thực tế, chúng ta thấy rằng ngay từ thời của James (1982), ông đã đề xuất mô hình đa chiều cạnh về cái tôi với 3 thành tố cấu thành là cái tôi thể chất, cái tôi xã hội và cái tôi tinh thần. Đồng thời ông cũng thừa nhận khái niệm tự đánh giá mang tính tổng thể của mỗi ngƣời.
Dựa vào công trình nghiên cứu của James, L’Écuyer ( 1978) đã đƣa ra khái niệm tự đánh giá bản thân theo cách tiếp cận đa chiều cạnh trên cơ sở cảu phƣơng pháp G. Phƣơng pháp này cho phép chủ thể trong khoảng thời gian đầu tiên mô tả bản thân mình nhƣ mình mong muốn và sau đó, nhà nghiên cứu sẽ đề nghị họ chọn ra điều gì là quan trọng nhất đối với họ theo những gì mà họ đã mô tả. Trên cơ sở này, L’Écuyer đã đƣa ra mô hình tự đánh giá bản thân theo 5 cấu trúc lớn nhƣ sau: cái tôi thể chất, cái tôi tinh thần, cái tôi thích nghi, cái tôi xã hội và cái tôi không phải là tôi (quan điểm của bản thân về ngƣời khác cũng nhƣ quan điểm của ngƣời khác về bản thân). Theo L’Écuyer, các lĩnh vực này không phải đều giữ vai trò quan trọng nhƣ nhau mà ngƣợc lại, tùy thuộc vào đặc điểm của từng cá nhân sẽ có thể có những lĩnh vực đƣợc nhìn nhận là rất quan trọng và những lĩnh vực khác ít quan trọng hơn.
Đồng thuận với quan điểm đa chiều cạnh về tự đánh giá bản thân, tác giả Shavelson và cộng sự (1976) cũng đã đề xuất mô hình tự đánh giá bản thân. Theo đó, tự đánh giá bản thân là một cấu trúc có thứ bậc, đa chiều cạnh mà nền tảng của nó đƣợc thiết lập bởi sự tự đánh giá trong các lĩnh vực khác 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhau: học đƣờng và ngoài học đƣờng. Cái tôi học đƣờng bao hàm trong nó cái tôi đặc trƣng cho các môn học nhƣ toán hay ngoại ngữ. Cái tôi ngoài học đƣờng bao hàm các lĩnh vực nhƣ các mối quan hệ với ngƣời khác, các trạng thái xúc cảm, tình cảm, ngoại hình và khả năng thể thao.
Và nhƣ vậy, tự đánh giá bản thân nói chung đƣợc gộp thành từ 2 lĩnh vực này. Dựa trên cơ sở công trình nghiên cứu của Shavelson và cộng sự, Marsh cùng các đồng nghiệp của mình (1984, 1990) đã đề xuất bản tự mô tả bản thân với 3 phiên bản I, II, III dành cho các đối tƣợng thuộc độ tuổi tiểu học cho tới vị thành niên. Dù có những thay đổi nhất định trong các phiên bản này song nhìn chung, các bản mô tả bản thân này đƣợc cấu thành từ 3 tiểu thang đo: học đƣờng, ngoài học đƣờng và cái tôi tổng thể với các lĩnh vực chính nhƣ toán học, ngôn ngữ, giải quyết vấn đề/sáng tạo, năng lực thể thao, ngoại hình, mối quan hệ với bạn cùng giới, mối quan hệ với bạn khác giới, mối quan hệ với bố mẹ, tín ngƣỡng/tôn giáo, sự trung thực/độ tin cậy, ổn định về mặt cảm xúc/an toàn. Cũng trong khoảng thời gian này, những ngƣời quan tâm tới tự đánh giá bản thân đều phải ghi nhận dấu ấn từ các công trình nghiên cứu của Harter.
Xuất phát từ luận điểm của James (1980) khi cho rằng tự đánh giá bản thân của mỗi ngƣời đƣợc củng cố trong các tình huống thành công, và luận điểm của Cooley (1902) với sự nhấn mạnh rằng tự đánh giá bản thân của mỗi ngƣời đƣợc xây dựng tùy vào cách mà chúng ta mã hóa phản ứng của ngƣời khác đối với mình, Harter (1985, dẫn theo Bariaud, 2006) đã đề xuất một thang đo tự đánh giá bản thân cho trẻ nhỏ với 6 lĩnh vực: khả năng học đƣờng, thể thao, đánh giá về ngoại hình, hành vi, đánh giá bởi bạn bè và đánh giá về giá trị chung của bản thân. 3 năm sau, vào năm 1988, bà đã đề xuất thang đo tự đánh giá bản thân cho trẻ vị thành niên trên cơ sở của S. Với thang đo này, Harter đã bổ sung thêm 3 tiểu thang đo cho 3 lĩnh vực đặc trƣng ở trẻ vị thành niên, đó là mối liên hệ gần gũi với bạn bè, sự hấp dẫn trong các quan hệ yêu đƣơng và năng lực trong công việc. Qua các 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công trình nghiên cứu này, Harter đã đi đến khẳng định rằng một khi trẻ tự đánh giá tiêu cực ở một lĩnh vực cụ thể nào đó thì sự đánh giá này cũng chƣa hẳn đã ảnh hƣởng đến sự hài lòng nói chung về các giá trị cá nhân của họ.
Bên cạnh đó chúng tôi cũng ghi nhận công trình nghiên cứu của một số tác giả ngƣời Nga khác nhƣ Petrovski, Iarosevxki và Prikhasan.