phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng : - Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tự chủ tài chính đại học. Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Thực trạng tự chủ tài chính ở Đại học Quốc gia Hà Nội.
Quan điểm định hƣớng và giải pháp đẩy mạnh tự chủ tài chính ở Đại học Quốc gia Hà Nội. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐẠI HỌC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, xu hƣớng các trƣờng đại học đƣợc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm là phổ biến và tất yếu.
Do vậy, tự chủ đại học nói chung và TCTC nói riêng đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, nhà nghiên cứu và nhà quản trị đại học. Có thể kể đến một số nghiên cứu cơ bản nhƣ sau: Malcolm Prowle và Eric Morgan (2005) đã đề cập đến vấn đề quản lý và kiểm soát tài chính đối với giáo dục đại học; các quan điểm của hai nhà khoa học là cẩm nang nghề nghiệp của những ngƣời quản lý tài chính trong các trƣờng đại học ở Mỹ. Khi nghiên cứu các trƣờng đại học Pháp, Cazenave (1992) cho rằng vấn đề TCTC của trƣờng đại học là trạng thái pháp lý, ngân sách của nhà trƣờng, quy trình lập dự toán; việc bầu chọn và quyền quyết định của hiệu trƣởng; chỉ định thủ quỹ; thành phần, nhiệm vụ của hội đồng trƣờng và sự kiểm soát của nhà nƣớc. Ngoài ra Cazenave cũng nhấn mạnh vấn đề liên quan trực tiếp tới TCTC là quyền tuyển dụng nhân sự, quyền trả lƣơng., khả năng mua hoặc xây mới và duy tu các tòa nhà bằng tiền của trƣờng, hệ thống NSNN.
Nhƣ vậy, Cazenave tiếp cận với tổ chức GDĐH và quyền TCTC của tổ chức GDĐH nhƣ là một đơn vị có cả nguồn lực tiền tệ và phi tiền tệ, bao gồm nguồn tài chính công, nhân viên, các công trình khoa học và sở hữu cơ sở vật chất, thiết bị.B (2011) cho rằng các nhân tố ảnh hƣởng đến tự chủ, TCTC, bao gồm: Cơ chế quản lý, kiểm soát, cách tài trợ ngân sách. Sự năng động, sáng tạo, cơ cấu tổ chức, hình thức pháp lý, quyền sở hữu, trách nhiệm giải trình, sự đa dạng nguồn tài chính của các trƣờng. (2011) các nguồn tài chính của nhà trƣờng, bao gồm: tài trợ công; thu phí, học phí; hợp đồng với khu vực tƣ nhân, doanh nghiệp và các tổ chức khác; hoạt động từ thiện; thƣơng 5 z mại, cung cấp dịch vụ và thu khác (nhƣ tiền thuê cơ sở vật chất, phục vụ nhà ở, căng tin, thƣ viện, trông giữ xe…); thu nhập từ hoạt động tài chính. Trong cơ cấu nguồn thu, tài trợ công chiếm đa số (tới 75% ở đại học Châu Âu); tiếp đến là học phí (chiếm 15%); nguồn thu bổ sung khác (chiếm 10%).
Về cơ cấu chi phí, chủ yếu chi cho biên chế (60%-90% tổng chi phí của đại học Châu Âu). Tài trợ công cấp theo cơ chế khoán (nhƣ cấp trực tiếp, đồng tài trợ, cạnh tranh); nhiều trƣờng đƣợc tự quyết định mức thu học phí. Arben Malaj, Fatmir Mema, and Sybi Hida (2005) cho rằng điều kiện và giải pháp để nâng cao tự chủ, TCTC cho nhà trƣờng là Nhà nƣớc phải cụ thể hóa nó trong điều khoản của pháp luật. Muốn hạn chế sự phát sinh rủi ro đạo đức (cán bộ quản lý sử dụng quyền lực cho lợi ích cá nhân) thì Nhà nƣớc phải có các biện pháp ƣu đãi, xử phạt rõ ràng về hành vi của ngƣời ra quyết định.
Cơ quan công quyền đóng vai trò then chốt thúc đẩy tự chủ, TCTC, giúp các trƣờng vƣợt qua những thách thức tài chính (nhƣ đơn giản hóa các nguyên tắc, thủ tục hành chính, xây dựng tiêu chí phân bổ tài trợ theo phƣơng thức cạnh tranh ; có chính sách ƣu đãi thuế với cá nhân, tổ chức đóng góp từ thiện ; khuyến khích các trƣờng thu hút nguồn tài chính từ khu vực tƣ nhân bằng cơ chế đồng tài trợ. Loại bỏ các rào cản pháp lý, đảm bảo nguồn lực tài chính và con ngƣời của nhà trƣờng đƣợc huy động cho mục tiêu giảng dạy, NCKH chất lƣợng cao. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Tại Việt Nam, vấn đề tự chủ đại học nói chung và TCTC nói riêng đã đƣợc nghiên cứu qua khá nhiều công trình NCKH cũng nhƣ các hội thảo, diễn đàn. Ở đây, tác giả xin đƣợc tập trung đề cập đến các nghiên cứu về TCTC.
Nguyễn Duy Tạo (2000) đã nghiên cứu khá hệ thống nội dung cơ chế quản lý tài chính đối với các trƣờng đào tạo công lập, từ quy trình lập dự toán đến phân bổ chi tiêu, cơ chế giám sát… Tuy nhiên, do đối tƣợng nghiên cứu là cơ chế quản lý tài chính ở các trƣờng công lập nói chung nên tác giả không phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp cho các trƣờng công lập với mô hình riêng với những đặc thù nhất định. 6 z Trần Thị Thu Hà (1993) phân tích về hiện trạng cơ chế quản lý ngân sách cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Tuy nhiên, một số nội dung nghiên cứu và kết luận không còn phù hợp bởi sau 15 năm tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam đã có nhiều thay đổi và những yếu tố tác động đến cơ chế quản lý tài chính và quản lý giáo dục cũng có nhiều khác biệt. Đặng Văn Du (2004) đã phân tích về đầu tƣ tài chính cho đào tạo đại học.
Tác giả đã xây dựng các tiêu chí phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả đầu tƣ tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam, qua đó phân tích thực trạng đầu tƣ tài chính và đánh giá hiệu quả của chúng qua các tiêu chí đƣợc xây dựng. Tác giả cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp tƣơng đối toàn diện và có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả đầu tƣ tài chính đại học ở nƣớc ta. Lê Phước Minh (2005) nghiên cứu chính sách tài chính cho GDĐH. Trên cơ sở tổng hợp lý luận và thực tiễn về chính sách tài chính cho GDĐH trong và ngoài nƣớc, tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng chính sách tài chính cho giáo dục ở Việt Nam, đồng thời làm rõ các cơ hội, thách thức và đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính cho GDĐH ở nƣớc ta.
Phùng Xuân Nhạ và các cộng sự (2012) nghiên cứu chính sách học phí trong bối cảnh đổi mới cơ chế tài chính, hƣớng tới nền giáo dục đại học tiên tiến, tự chủ. Theo các tác giả, việc áp mức trần học phí theo quy định tại Nghị định 49/2010/NĐ- CP của Chính phủ tại các trƣờng đƣợc giao cơ chế tự chủ về tài chính là chƣa hợp lý. Các tác giả đề xuất, đối với các ngành nghề có khả năng xã hội hóa cao (ví dụ tài chính, ngân hàng, thƣơng mại v.v…), nên xây dựng lộ trình cho phép các cơ sở đào tạo tự xác định mức học phí, đảm bảo tự cân đối kinh phí đào tạo. Ngân sách nhà nƣớc tiết kiệm đƣợc từ những ngành nghề này chuyển sang góp phần thực hiện cơ chế nhà nƣớc đặt hàng đối với các ngành nghề đào tạo ít có khả năng xã hội hóa (ví dụ, khoa học cơ bản, nghệ thuật, điện hạt nhân, đào tạo giáo viên sƣ phạm v.), với mức giá đặt hàng đƣợc tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo.
Để thực hiện việc cải cách học phí và cơ chế cấp phát ngân sách nhà nƣớc vừa nêu, các tác giả đề xuất thực hiện đồng thời hai giải pháp. Thứ nhất là xây dựng và phê duyệt đề án tự chủ 7 z tài chính (trong đó có chính sách học phí) theo trƣờng và thứ hai là Nhà nƣớc chủ động từng bƣớc giao quyền tự chủ tài chính cao hơn cho toàn khối giáo dục (trong đó có quyền tự chủ về xác định mức học phí). Các đề xuất, giải pháp nêu trong báo cáo này là đúng đắn, tuy nhiên mới dừng lại ở mức độ định hƣớng. Cần tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa các đề xuất, giải pháp này để có thể triển khai thực tế.
Lâm Quang Thiệp, trong các bài viết: “Về xu hƣớng hội nhập giáo dục đại học trên thế giới và những đổi mới của giáo dục đại học Việt Nam” tại Hội thảo “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam - Hội nhập và thách thức”, Hà Nội 3/2004 và “Xu thế toàn cầu hóa và thƣơng mại hóa giáo dục đại học trên thế giới và việc ứng phó của chúng ta” tại Hội thảo “Giáo dục đại học và việc gia nhập WTO” Viện Chiến lƣợc và Chƣơng trình giáo dục, 11/2005. Bài viết phân tích các xu thế phát triển mới trong giáo dục đại học trên thế giới, bàn về những cơ hội và thách thức đối với giáo dục đại học Việt Nam. Sự cần thiết và con đƣờng thực hiện đổi mới cũng nhƣ những khuyến nghị về chính sách đổi mới giáo dục đại học Việt Nam (trong đó có đổi mới chính sách quản lý tài chính) trong bối cảnh mới. Phan Đăng Sơn (2015) cho rằng: TCTC phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài chính đƣợc cung cấp và thái độ của nhà tài trợ về việc sử dụng nguồn tài chính đó.
Ở hầu hết các nƣớc, nguồn tài chính lớn nhất cho hoạt động của các trƣờng đại học đƣợc chính phủ cấp trực tiếp hay gián tiếp. Các nguồn tài chính này dùng cho xây dựng trƣờng sở, mua sắm thiết bị, chi phí thƣờng xuyên và nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, học phí, hợp đồng cung cấp dịch vụ, các khoản vay và thu phí khác cũng là nguồn thu lớn của các trƣờng đại học. Một nghiên cứu khác của Vũ Thị Thanh Thủy, Vũ Duy Hào (2012) cho rằng: hoạt động tài chính và TCTC là hoạt động then chốt, đảm bảo điều kiện, chi phối các hoạt động khác của bất cứ một tổ chức, doanh nghiệp nào.
Đối với các trƣờng đại học công lập, thực hiện đƣợc tự chủ tài chính theo đúng bản chất sẽ giúp nâng cao chất lƣợng đào tạo, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nguồn NSNN chi cho giáo dục. Tuy nhiên, để thực hiện tự chủ tài chính tại các trƣờng đại học công lập Việt Nam hiệu quả còn nhiều vấn đề đặt ra và cần có giải pháp thực hiện.