CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cúu VÀ co SỎ LÝ LUẬN VÈ TRUYÈN THÔNG MARKETING TÍCH HỢP 1. Tông quan tình hình nghiên cứu vê truyên thông marketing tích hợp 1. Các nghiên cún nước ngoài Lĩnh vực nghiên cứu truyền thông marketing tích hợp được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện với nhiều cách tiếp cận vấn đề khác nhau. Đà có nhiều công trình nghiên cứu về truyền thông marketing tích hợp được đăng trên sách báo, tạp chí, ấn phẩm, chẳng hạn: "Integrated Marketing Communications” (Don Edward Schultz, 1993) là cuốn sách chuyên kháo đầu tiên đặt nền móng về truyền thông marketing tích hợp.
Schultz chỉ ra rằng, những phương thức quảng cáo và bán hàng một cách đơn lẻ không còn có hiệu quả, những người làm marketing phải xây dựng chiến lược một cách đồng bộ, với các kênh truyền thông đa dạng đề tiếp cận tới mọi phân khúc thị trường với một thông điệp thống nhất. Cuốn sách cũng hướng dẫn làm thế nào để đưa một chương trình truyền thông marketing tích hợp vào thực tế với một quy trình tổng thể. "Principles of Advertising and IMC” (Tom Duncan, 2005) là cuốn sách chuyên khảo giải thích các nguyên tắc và thực hành quảng cáo cùng với các công cụ truyền thông marketing khác trong bối cảnh được tích hợp hoàn chỉnh với một quá trình lập kế hoạch. Cuốn sách này cung cấp cho người đọc hiểu biết căn bản về các chức năng chính của truyền thông marketing, các lựa chọn đề thay thế các phương tiện truyền thông và quy trình để tích họp các hoạt động này một cách hiệu quả nhất để phát triển các mối quan hệ có lợi và dài hạn giúp xây dựng thương hiệu và tạo ra giá trị thương hiệu.
Đặc biệt, cuốn sách này còn định hình một khái niệm truyền thông dựa trên các mối quan hệ. Tom Duncan cho rằng giao tiếp giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng là chìa khóa để xây dựng cơ sở vững chắc cho những người tiêu dùng đã được định hướng bởi marketing. Nghiên cứu của Jerry Kliatchko "Towards a new definition of Integrated Marketing Communications (IMC)” xuất bản năm 2015 đề cập đến kể từ khi ra đời 6 và hình thành khái niệm chính thức vê Truyên thông Marketing Tích hợp (IMC) vào cuối những năm 1980, khái niệm này tiếp tục nhận được sự chú ý và quan tâm rộng rãi trong giới học giả và các nhà thực hành trên toàn thế giới. Tuy nhiên, đánh giá các tài liệu về IMC trong thập kỷ qua cho thấy rằng sự bằng lòng về các vấn đề lý thuyết và định nghĩa vẫn còn chưa được giải quyết.
Những người đề xuất IMC thừa nhận và khuyến nghị rằng cần có nhiều nghiên cứu sâu rộng hơn trong lình vực này để cúng cố hơn nữa các cơ sở lý thuyết của nó. Trong bài viết này, một số định nghĩa IMC được xem xét và phân tích bằng cách xem xét các điểm tốt cũng như các điểm bất cập của chúng. Một định nghĩa mới về khái niệm sau đó được đề xuất, đề xuất ba thuộc tính đặc biệt, hoặc trụ cột, của IMC như một đóng góp vào việc xây dựng lý thuyết về IMC. Một công trình khác cũng nghiên cứu về IMC là “A Multi-Country Comparison of the Drive for IMC” của Philip j.
Kitchen và Don e. Nội dung bài báo này liên quan đến sự phổ biến và sự phát triển nhanh chóng của khái niệm Truyền thông Marketing Tích hợp (IMC), trước hết là về mặt xem xét các cơ sở lý thuyết và thứ hai, bằng một nghiên cứu thực nghiệm (nhưng vẫn mang tính khám phá) năm quốc gia về chủ đề này trong các Công ty quảng cáo từ Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, New Zealand, úc và Ấn Độ. Từ các nghiên cứu trên, có thể thấy các vấn đề về IMC tuy không mới nhưng chỉ được đề cập vào những năm gần đây dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 và thứ 4. Trong đó, IMC là giao tiếp giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng dựa trên việc xây dựng chiến lược một cách đồng bộ, với các kênh truyền thông đa dạng để tiếp cận tới mọi phân khúc thị trường với một thông điệp thống nhất.
1,1,2, Các nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, truyền thông marketing tích hợp vẫn còn là một khái niệm mới, nhưng cũng đà có một số công trình nghiên cúu đề cập và giải quyết, tiêu biểu như sau: “Truyền thông marketing tích họp” là cuốn sách chuyên khảo của tác giả Trần Thị Thập đã cung cấp những kiến thức căn bản về truyền thông marketing tích hợp, gắn liền hoạt động này với hoạt động kinh doanh chung của doanh nghiệp. 7 Quá trình truyên thông và quá trình hoạch định truyên thông marketing tích hợp đêu được mô hình hóa trong cuốn sách, các tiêu chuẩn để đánh giá hoạt động truyền thông cũng được phân tích cụ thể. Cuốn sách giúp sinh viên, và những người làm truyền thông hiểu và vận dụng tốt các kỹ năng để quản trị truyền thông marketing tích hợp một cách bài bản và gắn liền với hoạt động kinh doanh cùa doanh nghiệp. “Giáo trình Truyền thông marketing tích họp (IMC)” của tác giả Truong Đình Chiến được viết năm 2019 là một trong những cuốn sách cập nhật nhất về truyền thông marketing tích hợp tại Việt Nam.
Cuốn sách giúp sinh viên và người đọc có những kiến thức căn bản về truyền thông marketing tích họp. Vận dụng những điểm mới, từ những cuốn sách chuyên khảo trong và ngoài nước trước đó. “Hoạt động truyền thông Marketing tích hợp cho dịch vụ thẻ EPartner tại Ngân hàng TMCP Viettinbank Chỉ nhánh Lê Chân - Hải Phòng” của tác giả Trần Thị Hoài Xuân là luận văn thạc sỹ bảo vệ năm 2013, bảo vệ tại Đại học Kinh tế quốc dân. Luận văn đã khái quát được các lý thuyết cơ bản về các công cụ truyền thông và quản trị truyền thông marketing tích hợp.
Thực trạng về hoạt động truyền thông marketing và phối thức kết họp các công cụ truyền thông dành cho thẻ EPartner tại Chi nhánh Lê Chân - Viettinbank được mô tả rất chi tiết và cụ thể, luận văn cũng đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hoạt động truyền thông marketing tích họp tại đây. Tuy nhiên, luận văn vẫn có khuynh hướng phân tích các hoạt động của từng công cụ truyền thông hơn là sự tích hợp của các công cụ truyền thông đó. Luận văn thạc sỹ “Xây dựng chiến lược truyền thông marketing cho sản phấm bia tại Công tỵ Bia Huế” của Võ Thị cẩm Ly bảo vệ năm 2011 tại Đại học Đà Nằng. Luận văn tổng họp được những lý thuyết cơ bản về truyền thông, chiến lược truyền thông và quản trị các chương trình truyền thông.
Luận văn cũng đã đánh giá được hoạt động truyền thông của Công ty Bia Huế, xác định được các thành tựu và hạn chế thông qua kết quả điều tra tại một số địa phương, từ đó xây dựng được chiến lược và chương trình truyền thông cụ thể cho từng phân đoạn thị trường cùa Công ty Bia Huế cho năm 2012. “Chỉnh sách truyền thông marketing tại Công ty cồ phẩn Vina Acecook - Chỉ nhánh Đà Nang” là luận văn thạc sỹ, bảo vệ tại Đại học Đà Nằng. Luận văn tồng họp lại những lý thuyết cơ bản về khái niệm và tiến trình xây dựng chính sách truyền 8 thông marketing. Luận văn cũng đã đánh giá được chính sách truyên thông marketing của Công ty cổ phần Vina Acecook, và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện chính sách truyền thông marketing cho đơn vị như: xác định mục tiêu kinh doanh, mục tiêu truyền thông, ngân sách truyền thông và kế hoạch cụ thể cho từng công cụ truyền thông.
Cũng tại đại học Đà Nằng, năm 2012, tác giả Phạm Thị Xuân Ly bảo vệ luận văn thạc sỹ với đề tài “Chiến lược truyền thông marketing cùa Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội Chi nhánh Đà Nang”, về cơ sở lý luận, luận văn đã nêu ra được những vấn đề căn bản cũa truyền thông marketing ngân hàng cùng với lỷ thuyết về chiến lược truyền thông marketing tích hợp. Từng công cụ truyền thông tại đơn vị đều được đánh giá rất cụ thể trong luận văn từ mục tiêu, nội dung, hạn chế. Luận văn cũng đã đưa ra được chiến lược truyền thông marketing cho đơn vị dựa trên mục tiêu kinh doanh, các chiến lược sản phấm, giá, phân phối và xúc tiến thương mại. Từ các nghiên cứu trong nước, có thể thấy IMC có thể ứng dụng ở mọi lĩnh vực kinh doanh như marketing ngân hàng, sản phẩm, dịch vụ.
IMC cũng được tổng hợp, phân tích và mô hình hóa đế giúp người học và các nhà nghiên cứu thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện công trình cũa mình. Khoảng trống nghiên cún Có thể nhận thấy, nghiên cứu truyền thông marketing tích hợp không mới trên thế giới nhưng mới được chú ý nghiên cứu ở Việt Nam trong các năm gần đây. Các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định trong việc cung cấp cơ sở lý luận về truyền thông marketing tích hợp và đà có nghiên cứu về truyền thông marketing tích hợp ứng dụng trong một số doanh nghiệp tại các lĩnh vực như thực phẩm ăn liền, đồ uống, ngân hàng.Cụ thể, khoảng trống nghiên cúu mà tác giả mong muốn trình bày trong luận văn hiện nay khác biệt so với trước đây là: Khác biệt về nội dung nghiên cứu: công trình này thường tập trung nghiên cứu vấn đề dưới góc độ marketing và truyền thông, chứ không nghiên cứu dưới góc độ hoạt động truyền thông marketing tích họp. Các sách xuất bản về lý thuyết truyền thông marketing tích hợp không nhiều để lựa chọn.
Ở tầm thấp hơn, các luận văn 9 thạc sỹ đưa ra các quan điêm vê truyên thông marketing khác nhau và ứng dụng vào hoạt động kinh doanh khác nhau. Những lý luận về truyền thông marketing ở những đề tài trên căn bản là hoạt động xúc tiến hồn hợp trong marketing chứ chưa phát triển được những điểm mới trong truyền thông marketing tích hợp. Các công cụ truyền thông: quảng cáo, xúc tiến bán, bán hàng cá nhân, quan hệ công chúng, marketing mới chỉ nghiên cứu, khai thác sơ khai, chưa thật sự sâu sắc về mặt học thuật. Bản chất của mồi công cụ truyền thông, những lợi thế của nó và cả những nhược điểm nhất định chưa được làm rõ ở mỗi đề tài.
Khác biệt về phạm vi nghiên cúu và đối tượng nghiên cứu: Các công trình của thế giới trước đây tập trung nghiên cứu IMC về mặt lý thuyết là chủ yếu. Các công trinh kinh điển, được đăng trên các tạp chí, sách.có uy tín chưa thấy đề cập nhiều đến các trường hợp phạm vi và đối tượng cụ thể. Các đề tài của Việt Nam ngược lại chỉ nghiên cứu ứng dụng vào các lĩnh vực cụ thể.