chương 1 này, chúng tôi tập trung để làm rõ khung lý thuyết và một số khái niệm liên quan đến đề tài luận văn. Chương này c ng sẽ chỉ ra mối quan hệ giữa báo chí địa phương với truyền thông về di sản văn hoá vật thể địa phương. Làm rõ thêm việc lựa chọn thời gian và chọn loại hình báo in, báo điện tử để khảo sát. Trên cơ sở đó, tạo nền tảng để các chương tiếp theo giải quyết những vấn đề đặt ra của luận văn.
Các khái niệm báo chí được sử dụng trong luận văn: Khái niệm về truyền thông: Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để gia tăng hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về môi trường xung quanh, nhằm thau đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hoặc của cộng đồng xã hội nói chung, bảo đảm sự phát triển bền vững”[13, tr. Theo đó, truyền thông mang bản chất xã hội bởi truyền thông là hoạt động thông tin – giao tiếp xã hội; là phương tiện và phương thức liên kết xã hội; là phương tiện và phương thức can thiệp xã hội. Trong giáo trình C s lý luận báo chí truyền thông của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) có định nghĩa: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kĩ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [21, tr. Như tác giả Mai Quỳnh Nam đã nói: “Hoạt động truyền thông chỉ có ý nghĩa khi nó kích thích được lợi ích của đối tượng tiếp nhận, thuyết phục họ về mặt nhận thức, tạo cho họ hành động chung.
Từ ý nghĩa đó, người ta nhận 18 thấy khả năng truyền bá rộng lớn của hoạt động truyền thông trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển” [19, tr. TS Dương Xuân Sơn trong chuyên khảo về Các loại hình báo chí truyền thông đã nêu khái niệm về truyền thông như sau: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kinh nghiệm, kỹ năng…nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [17, tr. 15] Khái niệm truyền thông đại chúng: “Truyền thông đại chúng có thể được hiểu là hệ thống (hoặc mạng lưới) các phương tiện truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội (nhân dân các vùng miền, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế) để thông tin, chia sẻ, nhằm lôi kéo và tập hợp, giáo dục thuyết phục và tổ chức đông đảo công chúng xã hội và nhân dân nói chung tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - văn hoá – xã hội đã và đang đặt ra” [13, tr. Thuật ngữ truyền thông đại chúng (TTĐC) trong tiếng Anh là “mass media” hay “mass communication”.
Từ góc nhìn xã hội học, nhà nghiên cứu Mai Quỳnh Nam cho rằng: “TTĐC là toàn bộ những phương tiện lan truyền thông tin như báo chí, truyền hình, phát thanh…tới những nhóm công chúng lớn” [19, tr. C ng theo PGS. TS Nguyễn Văn Dững, “Trong truyền thông và truyền thông đại chúng, báo chí có vị trí trung tâm và vai trò nền tảng trong việc quyết định sức mạnh, bản chất và khuynh hướng chính của truyền thông nói chung”. Bản chất của báo chí truyền thông “là hoạt động thông tin – giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế…” [13, tr.
TS Dương Xuân Sơn đưa ra khái niệm về truyền thông đại chúng như sau: “Truyền thông đại chúng có thể được hiểu là hệ thống hoặc mạng lưới các phương tiện truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội (nhân dân các vùng miền, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế) để thông tin chia sẻ, nhằm lôi kéo và tập hợp giáo dục, thuyết phục và tổ chức đông đảo công chúng xã hội nhân dân nói chung tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hoá xã hội đã và đang đặt ra” [17, tr. Như vậy, truyền thông không chỉ có báo chí, mà còn có rất nhiều loại hình, phương thức, dạng thức khác nhau. Tuy nhiên, báo chí đóng vai trò trung tâm, nền tảng. Trong phạm vi khảo sát của luận văn, truyền thông được hiểu là truyền thông báo chí và không bàn tới các loại hình, dạng thức, cách thức truyền thông khác.
Từ những luận điểm các nhà nghiên cứu đã nêu, chúng ta thấy rằng TT C l quá trình xã hội mà các nhà truyền thông chuy n t i th ng điệp qu các PTTT C đ liên k t công chúng nhằm gi i quy t các v n đề xã hội đặt ra. Cách hiểu này nhấn mạnh TTĐC là một quá trình xã hội có mối liên hệ với các phương tiện TTĐC như báo, sách, phát thanh, truyền hình, quảng cáo. gọi là kênh. Để quá trình truyền thông hiệu quả, tổ chức truyền thông cần nghiên cứu kỹ về ưu - nhược điểm của các kênh để có sự lựa chọn phù hợp.
Khái niệm Báo in: “ Báo in là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, bằng ký hiệu chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các sự kiện và vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng – nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định” [13, tr. Báo in là loại hình báo chí ra đời sớm nhất trong lịch sử nhân loại. Nhờ vận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới đã giúp cho báo in có những bước tiến trong công nghệ như quy trình làm báo. Đồng thời báo in c ng ngày càng phong phú, chất lượng hơn về nội dung thông tin và hình thức trình bày.
20 Báo in được thực hiện dưới nhiều hình thức: nhật báo, tuần báo, bán nguyệt san, nguyệt san, lưỡng nguyệt san…Riêng ở các nước phát triển thì có báo buổi sáng, báo buổi chiều, báo bình dân, báo quốc gia, báo địa phương, nhật báo đặc biệt…Mỗi loại báo in như vừa nêu có trình bày, nội dung phản ánh, đối tượng độc giả khác nhau, thời gian phát hành khác nhau. Quan điểm về khái niệm báo in khá đồng nhất, có thể kể đến khái niệm báo in mà PGS. TS Hà Huy Phượng, “Báo in là thuật ngữ chỉ một loại hình báo chí định kỳ thông tin thời sự các sự kiện, các vấn đề trong đời sống xã hội thông qua việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết và kỹ thuật in ấn để chuyển tải thông tin”. Khái niệm Báo điện tử: PGS.
TS Nguyễn Văn Dững dùng thuật ngữ “báo mạng điện tử” để gọi tên loại hình báo chí này. Theo đó, đây là “loại hình báo chí – truyền thông tồn tại, phát triển trên mạng internet toàn cầu. Là kênh truyền thông đặc thù ra đời sau, báo mạng điện tử đã hội tụ được nhiều ưu điểm nổi trội của các kênh truyền thông trước đó, đồng thời c ng bộc lộ những bất cập” [13, tr. Báo điện tử chỉ tồn tại, phát triển và quảng bá trên mạng internet.
Trong Điều 3, Chương 1 của Luật số 12/1999/QH10 ngày 12/6/1999 về Sử đổi bổ sung một số điều củ Luật áo chí được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/12/1989 c ng có ghi thuật ngữ “Báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số và tiếng nước ngoài” để chỉ về loại hình báo chí này. Báo điện tử là loại hình báo chí được thực hiện trên mạng thông tin máy tính, tuy chỉ vừa mới xuất hiện trong thời gian gần đây nhưng đã có một chỗ đứng nhất định trong lòng độc giả. Sự xuất hiện của báo mạng điện tử đã gây ra những xáo trộn đối với các loại hình báo chí khác khi tạo nên cuộc cạnh 21 tranh với truyền hình, phát thanh, báo in và báo điện tử đang chiếm ưu thế, khẳng định sức mạnh của một loại hình báo ra đời sau nhưng đầy tiềm năng. Lượng thông tin mà báo mạng đưa ra không hề thua kém những loại hình báo chí khác về sự đa dạng, phong phú.
Một trong những lợi thế khác của báo mạng chính là khả năng lưu trữ dường như là vô tận các thông tin. Người đọc có thể tìm kiếm các tài liệu cần thiết, sau đó có thể dễ dàng lưu các thông tin đó để phục vụ cho mục đích của bản thân. Những tài liệu đó sẽ được lưu trữ một cách an toàn mà không chịu ảnh hưởng của thời gian, không gian. Một số khái niệm về văn hoá được sử dụng: Khái niệm Di sản văn hoá Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại [24, tr.
Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định nghĩa: “Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà các nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai” [29, tr. Như vậy, di sản văn hoá được hiểu như là tài sản, báu vật của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau. Di sản văn hoá là các tài sản văn hóa như các tác phẩm nghệ thuật dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học.mà các thế hệ trước để lại cho hậu thế mai sau. Luật di sản văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [3, tr.
Sự ra đời của Luật di sản văn hóa năm 2001 cùng các văn bản hướng dẫn đi kèm đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng, nhằm tăng cường nhận thức và hành động cho toàn xã hội, tăng cường sự hiểu biết về di sản và quá trình bảo vệ, phát huy kho tàng di sản văn hóa của dân tộc.