Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh khủng hoảng môi trường toàn cầu, việc tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn sinh thái học đang trở thành một xu hướng học thuật có tính thời sự cao. Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại chiếm khoảng 15% đến 20% trong tổng thể diện mạo văn học nước nhà sau năm 1975, sở hữu trữ lượng tri thức bản địa phong phú gắn liền với không gian rừng đại ngàn. Nhà văn Hà Thị Cẩm Anh, sinh năm 1948 tại vùng đất Cẩm Thủy, Thanh Hóa, là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn xuôi dân tộc Mường. Tác giả từng xuất sắc giành giải Nhất cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ giai đoạn 2004-2005 với truyện ngắn Gốc gội xù xì, khẳng định một tư duy nghệ thuật sắc sảo và đậm đặc chất Mường.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ một khoảng trống học thuật rõ rệt: dù sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh đã được giới phê bình chú ý ở khía cạnh số phận người phụ nữ (chiếm tới 90% nhân vật chính trong 7 tập truyện viết cho người lớn) hoặc sắc thái phong tục bản địa, nhưng chưa có một công trình nào khảo sát toàn diện và có hệ thống di sản của bà dưới lăng kính lý thuyết phê bình sinh thái. Mục tiêu cụ thể của luận văn là giải mã mối quan hệ biện chứng giữa con người và thế giới tự nhiên, đồng thời phân tích các phương thức kiến tạo nghệ thuật phản ánh cảm quan sinh thái của tác giả.

Phạm vi khảo sát của đề tài tập trung vào 37 tác phẩm truyện ngắn, truyện vừa và truyện dài in trong Tuyển tập văn xuôi Hà Thị Cẩm Anh gồm 986 trang do Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên ấn hành năm 2016. Không gian nghiên cứu gắn liền với địa bàn cư trú của người Mường vùng Tây Thanh Hóa như thung lũng Si Dồ, xứ Ba Mường, Mường Vang, Mường Khô. Luận văn được nghiệm thu năm 2022 tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, đáp ứng nghiêm ngặt quy chuẩn liêm chính học thuật với chỉ số tương đồng văn bản Turnitin đạt 24%. Công trình mang ý nghĩa học thuật tiên phong khi mở ra phương pháp tiếp cận xanh đối với văn học dân tộc thiểu số, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và di sản văn hóa vùng cao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của luận văn dựa trên nền tảng của phê bình sinh thái hiện đại, một khuynh hướng nghiên cứu văn hóa và văn học liên ngành được khởi xướng bởi học giả William Rueckert vào năm 1978 và định hình mạnh mẽ qua công trình của Cheryll Glotfelty năm 1988. Phê bình sinh thái dịch chuyển hệ hình tư duy từ quan điểm nhân loại trung tâm sang quan điểm sinh thái trung tâm, xem Trái Đất là chỉnh thể sống tối cao chi phối sự tồn tại của muôn loài. Thuật ngữ sinh thái bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với nghĩa gốc là "ngôi nhà tự nhiên", chỉ mối tương tác hữu cơ giữa sinh thể và nơi cư ngụ vật lý.

Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái của học giả Vương Nặc và các nhà nghiên cứu Việt Nam đầu thế kỷ 21, xác lập rằng lợi ích của hệ sinh thái tự nhiên là thước đo chuẩn mực cho mọi hành vi ứng xử. Bốn khái niệm chính được vận dụng xuyên suốt gồm:

  • Nhân loại và phi nhân loại (human/nonhuman): Xác lập vị thế bình đẳng giữa con người và các thực thể tự nhiên như muông thú, cây cỏ, đất đá, dòng nước.
  • Thẩm mĩ sinh thái: Nguyên tắc đánh giá cái đẹp dựa trên tính toàn vẹn và cân bằng của hệ thống tự nhiên thay vì chỉ phục vụ thị hiếu tiêu dùng của con người.
  • Đạo đức sinh thái: Hệ giá trị thức tỉnh lương tri của nhân loại trước các hành vi tàn phá nơi sinh sống của các loài khác.
  • Cốt truyện sinh thái: Cấu trúc tự sự tái hiện quá trình nương tựa, khai thác, xung đột hoặc sự đáp trả của tự nhiên đối với đời sống con người.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành khảo sát trên cỡ mẫu gồm 37 tác phẩm văn xuôi được tuyển chọn trong công trình xuất bản năm 2016. Luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu mục đích toàn diện (purposive sampling), bao quát toàn bộ các truyện ngắn tiêu biểu, truyện vừa và 3 truyện dài thiếu nhi của nhà văn Hà Thị Cẩm Anh. Cỡ mẫu này đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho tư tưởng nghệ thuật của tác giả từ khi xuất hiện trên văn đàn đến giai đoạn đỉnh cao sáng tác.

Phương pháp nghiên cứu cốt lõi gồm phân tích văn bản học kết hợp phương pháp so sánh và thống kê định lượng. Việc áp dụng thống kê cho phép tác giả lượng hóa chính xác các biểu hiện sinh thái, đơn cử như việc xác định 11 tác phẩm có chứa chi tiết chữa bệnh bằng thảo mộc với tần suất 24 lượt xuất hiện cụ thể. Lý do lựa chọn kết hợp thống kê và phân tích ngữ văn là nhằm khắc phục lối bình tán cảm tính truyền thống, đưa ra những bằng chứng định lượng thuyết phục về tư tưởng sinh thái của nhà văn. Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học với dân tộc học, văn hóa học Mường và sinh thái cảnh quan được vận dụng để làm sáng tỏ các tầng tri thức bản địa ẩn chứa trong tác phẩm. Toàn bộ quy trình nghiên cứu, khảo sát dữ liệu và hoàn thành luận văn được triển khai tập trung trong giai đoạn từ năm 2020 đến tháng 7 năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát hệ thống 37 tác phẩm trong tuyển tập văn xuôi của Hà Thị Cẩm Anh cho thấy bốn phát hiện quan trọng về cảm quan sinh thái:

Thứ nhất, tự nhiên đóng vai trò là cội nguồn cưu mang, nuôi dưỡng sự sống và là tủ thuốc chữa lành bệnh tật cho con người vùng cao. Kết quả phân tích thống kê xác định có 11 trên tổng số 37 tác phẩm (tỷ lệ 29,73%) trực tiếp miêu tả việc con người sử dụng cỏ cây, hoa lá, rễ cây rừng làm dược liệu cứu người với tổng cộng 24 lượt ghi nhận. Trong đó, truyện dài Những đứa trẻ mồ côi chiếm tần suất cao nhất với 8 lượt xuất hiện (chiếm 33,33% tổng số lần nhắc đến thuốc nam), miêu tả việc hai đứa trẻ mồ côi dùng thảo mộc để hạ sốt, chữa bỏng và cứu chữa thú rừng bị thương. Truyện ngắn Khá Chồi có 3 lượt ghi nhận việc tìm cây thuốc quý cứu giúp dân nghèo.

Thứ hai, tự nhiên là không gian che chở những số phận bên lề xã hội, đồng thời con người lấy tự nhiên làm kế sinh nhai bền vững. Trong truyện ngắn Gốc gội xù xì, một cô gái mang dị tật bị cộng đồng xa lánh đã tìm thấy sự an ủi tuyệt đối dưới gốc cây cổ thụ, tự nguyện bảo vệ an toàn cho khu rừng nguyên sinh rộng hơn 100 héc-ta trước sự dòm ngó của lâm tặc. Trong truyện Thằng Chinh ngốc, nhân vật chính dù sống trong cảnh nghèo đói cùng cực vẫn dũng cảm đem nộp lại 10 triệu đồng tiền hối lộ của bọn phá rừng cho Trạm Kiểm lâm để bảo vệ đại ngàn.

Thứ ba, sự xung đột khốc liệt giữa con người và tự nhiên nảy sinh từ lòng tham của cơ chế thị trường. Luận văn chỉ rõ các hành vi khai thác tận diệt như dùng thuốc nổ đánh bắt cá trên sông, cày xới lòng suối hút cát, đốn hạ lim, lát, gụ tại rừng Chuông Cò trong truyện Lão thần rừng nhỏ bé. Đi kèm với việc hủy hoại thiên nhiên là thảm kịch bức tử văn hóa Mường: hàng loạt ngôi nhà sàn cổ hàng trăm năm tuổi bị bán xới để trả nợ cá độ, lô đề, hai bộ cồng chiêng quý gồm 12 chiếc vốn là tài sản cộng đồng bị biến thành chiến lợi phẩm trưng bày trong nhà riêng của kẻ có chức quyền.

Thứ tư, nghệ thuật thể hiện cảm quan sinh thái đạt trình độ điêu luyện qua ba dạng cấu trúc cốt truyện (hòa hợp, xung đột, tự nhiên trả thù), hai hệ thống không gian đối lập (không gian thôn dã yên ả và không gian cuồng nộ giận dữ của bão lũ, lở núi), cùng hệ thống ngôn ngữ so sánh đậm chất tư duy Mường lấy hình tượng hoa rừng, cây vầu, con thú làm chuẩn mực miêu tả ngoại hình và nội tâm nhân vật.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của các hiện tượng trên bắt nguồn từ sự xâm lăng ồ ạt của lối sống thực dụng và kinh tế thị trường vào các thung lũng miền núi vốn bình yên. Khi đồng tiền trở thành thước đo giá trị tối thượng, mối quan hệ thiêng liêng giữa con người và thiên nhiên bị cắt đứt, biến thiên nhiên từ người mẹ bao dung thành đối tượng bị cướp bóc vô độ. Khi con người phá vỡ cân bằng sinh thái, tự nhiên tất yếu giáng trả sấm sét thông qua lũ quét, sạt lở đất, dịch bệnh và sự suy đồi nhân tính.

Dữ liệu định lượng trong luận văn có thể được trực quan hóa sinh động qua hai dạng công cụ trình bày:

  • Biểu đồ phân bố tần suất: Thể hiện tỷ trọng 24 lượt xuất hiện của chi tiết thuốc nam phân bổ qua 11 tác phẩm, giúp người đọc thấy rõ sự phân tầng đậm nét ở mảng truyện thiếu nhi và truyện về số phận người phụ nữ.
  • Bảng ma trận đối sánh không gian nghệ thuật: Trình bày sự tương phản giữa không gian sinh thái hoang sơ nguyên vẹn (rừng Chuông Cò, thung lũng Si Dồ) với không gian sinh thái bị biến dạng do khai thác cát sỏi và tàn phá rừng luồng, làm nổi bật thông điệp cảnh báo của tác giả.

So sánh với các cây bút cùng thời viết về miền núi sau năm 1975 như Nguyễn Huy Thiệp hay Nguyễn Trí, sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh mang nét khu biệt sâu sắc. Nếu Nguyễn Huy Thiệp quan sát rừng già bằng cái nhìn hoài nghi, sắc lạnh của một người khách miền xuôi qua những ẩn dụ triết học gay gắt, nếu Nguyễn Trí tái hiện cảnh bãi vàng, đào đá quý bằng sự trần trụi, khốc liệt đầy bạo lực, thì Hà Thị Cẩm Anh lại cất lên tiếng nói từ chính bản thể người Mường. Bà đắm chìm trong không gian văn hóa xứ Mường với tấm lòng trắc ẩn, gắn việc bảo vệ rừng già với việc bảo tồn những câu xường ru, đêm Mo Mường và ký ức của tổ tiên.

Đề xuất và khuyến nghị

Từ các phát hiện nghiên cứu, luận văn mở ra những hàm ý thực tiễn sâu sắc thông qua 4 giải pháp hành động cụ thể:

  • Tích hợp nội dung văn học sinh thái bản địa vào chương trình giáo dục địa phương: Đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hóa phối hợp với các cơ sở đào tạo đưa các tác phẩm tiêu biểu như Gốc gội xù xì, Thằng Chinh ngốc vào giảng dạy thử nghiệm trong 15% đến 20% thời lượng của môn Ngữ văn địa phương cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, hoàn thành trong giai đoạn 2024-2026.
  • Số hóa và bảo tồn không gian văn hóa sinh thái Mường: Khuyến nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa cùng Ủy ban nhân dân các huyện miền núi triển khai đề án số hóa 100% các hiện vật nhà sàn cổ, các bộ chiêng quý và tư liệu Mo Mường gắn với không gian cư trú tự nhiên, đặt mục tiêu hoàn thành vào quý IV năm 2027 nhằm ngăn chặn tình trạng chảy máu cổ vật.
  • Mở rộng hướng tiếp cận phê bình sinh thái trong nghiên cứu hàn lâm: Các trường đại học sư phạm và viện nghiên cứu chuyên ngành cần thành lập nhóm nghiên cứu mạnh về phê bình sinh thái, hướng tới mục tiêu công bố từ 30 đến 40 bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành uy tín trong nước và quốc tế trước năm 2028, tập trung vào kho tàng văn học các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
  • Thiết lập mô hình kinh tế nông lâm nghiệp sinh thái dựa trên cộng đồng: Chính quyền các địa phương vùng đệm rừng phòng hộ cần hỗ trợ đồng bào phát triển các mô hình trồng luồng, nuôi ong, bảo tồn vườn cây thuốc nam bản địa phỏng theo kinh nghiệm sản xuất bền vững của các nhân vật trong tác phẩm, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ che phủ rừng bền vững tại khu vực miền Tây Thanh Hóa đạt trên 65% vào năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu này là nguồn tài liệu hữu ích và có giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể sau:

  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về việc vận dụng lý thuyết phê bình sinh thái vào văn bản văn xuôi đương đại, đồng thời là một gợi ý mẫu mực về kỹ thuật xử lý dữ liệu thống kê văn bản trên cỡ mẫu 37 tác phẩm cụ thể.
  • Giảng viên đại học và giáo viên Ngữ văn các trường phổ thông: Tài liệu giúp nâng cao chuyên môn trong việc phân tích các tác phẩm văn học dân tộc thiểu số, cung cấp hệ thống dẫn chứng phong phú để xây dựng các bài giảng tích hợp giáo dục môi trường và bảo vệ đa dạng sinh học theo chương trình giáo dục hiện hành.
  • Các nhà nghiên cứu dân tộc học, văn hóa học và nhân học sinh thái: Nguồn tư liệu dân tộc chí chân thực về đời sống, phong tục, tập quán chữa bệnh cổ truyền bằng 24 vị thuốc nam tự nhiên, cùng những biến động xã hội sâu sắc tại các bản làng Mường ở miền Tây Thanh Hóa qua hơn 50 năm chuyển đổi kinh tế.
  • Các nhà hoạch định chính sách xã hội và cán bộ quản lý tài nguyên môi trường: Cung cấp góc nhìn nhân văn về mối gắn kết mật thiết giữa sinh kế người dân bản địa với tài nguyên rừng, hỗ trợ xây dựng các chiến lược truyền thông môi trường dựa trên văn hóa và tri thức bản địa thay vì chỉ áp dụng mệnh lệnh hành chính khô cứng.

Câu hỏi thường gặp

Điểm đột phá lớn nhất của luận văn so với các nghiên cứu trước đó là gì?

Luận văn là công trình đầu tiên ứng dụng hệ thống lý thuyết phê bình sinh thái để khảo cứu toàn diện di sản truyện của Hà Thị Cẩm Anh. Thay vì chỉ tiếp cận dưới góc độ phản ánh phong tục hay hình tượng người phụ nữ như các nghiên cứu trước năm 2020, luận văn đã giải mã mối tương tác giữa sinh thái tự nhiên và sinh thái văn hóa qua 37 tác phẩm cụ thể.

Phê bình sinh thái được áp dụng như thế nào trong việc phân tích tác phẩm?

Tác giả soi chiếu văn bản qua mối quan hệ giữa nhân loại và phi nhân loại, đặt hành vi của nhân vật vào chỉnh thể sinh thái tự nhiên. Mọi hành động khai thác thiên nhiên đều được đánh giá qua chuẩn mực đạo đức sinh thái, từ đó phân tích các tầng ý nghĩa của cốt truyện đi săn, cốt truyện trú ẩn và cốt truyện tự nhiên trừng phạt.

Thiên nhiên trong truyện của Hà Thị Cẩm Anh có đặc điểm gì nổi bật?

Thiên nhiên không đơn thuần là phông nền cảnh vật tĩnh tại mà hiện diện như một sinh thể sống có linh hồn, biết che chở con người hoạn nạn nhưng cũng biết giận dữ trả thù. Thiên nhiên cung cấp nguồn sống, nuôi dưỡng tâm hồn và cung cấp 24 lượt dược liệu cứu người trong các hoàn cảnh ngặt nghèo nhất.

Mối quan hệ giữa sự tàn phá môi trường và sự tha hóa văn hóa được thể hiện ra sao?

Nhà văn chỉ ra rằng khi con người vì lòng tham mà đốn hạ rừng già, hủy diệt nguồn nước thì các giá trị văn hóa cốt lõi của người Mường cũng sụp đổ. Điển hình là việc các ngôi nhà sàn hàng trăm năm tuổi bị dỡ bán và những bộ chiêng quý bị chiếm đoạt, phản ánh nguy cơ diệt vong của bản sắc văn hóa tộc người.

Số liệu định lượng nào trong luận văn chứng minh rõ nhất cảm quan sinh thái của nhà văn?

Minh chứng thuyết phục nhất là bảng thống kê 11 trên 37 tác phẩm (đạt tỷ lệ 29,73%) có chi tiết dùng cây cỏ tự nhiên làm thuốc cứu người với 24 lượt xuất hiện. Con số này chứng minh tri thức bản địa và sự nương tựa vào thiên nhiên là một ám ảnh nghệ thuật sâu sắc trong tư tưởng Hà Thị Cẩm Anh.

Kết luận

  • Luận văn đã tiên phong giải mã toàn diện thế giới nghệ thuật của nhà văn dân tộc Mường Hà Thị Cẩm Anh qua lăng kính phê bình sinh thái học hiện đại trên cỡ mẫu 37 tác phẩm văn xuôi.
  • Nghiên cứu chỉ rõ triết lý sinh thái nhân văn: tự nhiên vừa là nơi cưu mang, chữa lành bệnh tật cho con người với 24 lượt ghi nhận thực tế, vừa nghiêm khắc giáng trả những hành vi khai thác tận diệt của lối sống thực dụng.
  • Tác phẩm khẳng định mối quan hệ cộng sinh bất khả phân ly giữa môi sinh tự nhiên và không gian văn hóa Mường, cảnh báo nguy cơ tha hóa nhân tính khi môi trường sống bị tàn phá.
  • Về phương diện học thuật tiếp nối giai đoạn 2025-2030, luận văn mở ra định hướng nghiên cứu so sánh văn học sinh thái giữa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ nhằm làm giàu thêm kho tàng lý luận văn học nước nhà.
  • Thông điệp bao trùm của công trình thôi thúc mỗi cá nhân và cộng đồng hãy nâng cao ý thức trách nhiệm sinh thái, tôn trọng quyền bình đẳng của muôn loài và chung tay gìn giữ màu xanh bền vững cho đại ngàn quê hương.