phần Mở đầu và Kết luận, cấu trúc luận án gồm có 04 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở hình thành mỹ cảm aware Chƣơng 3: Sắc thái bền vững của aware qua Truyện Genji và Ngàn cánh hạc Chƣơng 4: Những biến đổi của aware qua Truyện Genji và Ngàn cánh hạc 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trên cơ sở xác định mục đích, đối tƣợng và phạm vi cũng nhƣ lựa chọn cách tiếp cận, lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu, luận án đi đến khảo sát và đánh giá các công trình nghiên cứu có liên quan đến các luận điểm chính mà trong phần mục tiêu đã đƣa ra. Các công trình tập trung vào ba nội dung nhƣ mỹ cảm aware, aware trong Truyện Genji, aware trong Ngàn cánh hạc và so sánh aware trong hai tác phẩm này.
Từ các công trình nghiên cứu tiêu biểu, có thể tìm ra những nội dung có đề cập đến các vấn đề trên ở các mức độ khác nhau và chỉ ra sự kế thừa và khoảng trống trong từng vấn đề nghiên cứu của luận án. Các nghiên cứu về mỹ cảm aware 1.1 Aware đƣợc sinh ra từ nền văn hóa Nhật Bản Trước hết, xúc cảm aware khởi nguồn từ quan niệm thẩm mỹ của ngƣời Nhật cổ đại, đặc biệt sản sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản. Trong cuốn Mỹ học Nhật Bản hiện đại, Michele Marra giới thiệu bài Cái Đẹp là gì của Tsubouchi Shoyo [111,48-65] và Aware của Onishi Yoshinori [111,122-141]. Trên cơ sở bàn luận về cái đẹp và aware của hai tác giả trên, Michele đƣa ra kết luận rằng: aware là hình thức đặc biệt của cái đẹp, là tinh thần của thời kỳ Heian, đƣợc phát triển qua các giai đoạn và đƣợc bồi đắp nhiều lý luận hơn từ kể từ khi học giả Norinaga xuất bản công trình nghiên cứu về aware.
Trong một công trình khác tác giả cho rằng “Nhật Bản nhƣ một bảo tàng nghệ thuật lƣu giữ các giá trị truyền thống, đồng thời luôn hấp thu đầy sáng tạo các quan niệm mỹ học nƣớc ngoài, đặc biệt là phƣơng Tây” [112,123]. Công trình này đã đƣa ra những tranh luận của các nhà nghiên cứu mỹ học và quan điểm chung của các nhà nghiên cứu rằng cái đẹp là mục tiêu trung tâm của hình tƣợng nghệ thuật đến mức ngƣời nghệ sỹ Nhật đƣợc xem là những ngƣời có tinh thần duy mỹ. Bên cạnh các công trình của các học giả nƣớc ngoài, các công trình ở Việt Nam cũng đặc biệt làm rõ cái đẹp là trung tâm của văn hóa và nghệ thuật ở Nhật. Trong số đó, phải kể đến công trình nghiên cứu của Nhật Chiêu qua Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến năm 1868 [8,7].
Quyển sách đã trình bày khá cụ thể nhiều khái niệm mỹ học Nhật nhƣ aware, yugen, sabi, wabi, karumi. Bên cạnh đó, tác giả làm 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rõ đặc trƣng của cái đẹp trong văn hóa Nhật thông qua văn học từ thời cổ đại đến thời cận hiện đại. Ông khẳng định: “văn hóa Nhật Bản thiên về tình cảm và cái đẹp. Cảm thức hầu nhƣ đƣợc đƣa lên hàng đầu.
Ngƣời ta đánh giá một ai đó không chỉ dựa vào tài năng mà còn xét đến tiêu thức, nghĩa là sự biểu hiện cái đẹp ngay ở con ngƣời” [8,66]. Cũng có cách lý giải về cái đẹp trong nghệ thuật Nhật Bản, Khƣơng Việt Hà đã khẳng định: “Và đó còn là nghệ thuật Nhật Bản, một nền nghệ thuật “không thích sự hoàn tất mà hƣớng về vô tận”, một nền nghệ thuật tôn thờ cái đẹp của sự giản dị bằng lộ trình tàng ẩn kiêu sa mỹ lệ, một nền nghệ thuật sẵn sàng vinh danh cái đẹp mà vƣợt lên thành kiến trần tục của ngƣời đời vốn coi những gì đi ngƣợc lại những điều cấm kỵ của tôn giáo và đạo đức là vô luân” [20,23]. Nhƣ vậy, tác giả đã khẳng định cái đẹp có tính thuần khiết và chân thành đến mức tuyệt đối hóa và mang tính duy mỹ. Đối với nghệ thuật Nhật Bản, cái đẹp là chuẩn tắc và mục tiêu hƣớng tới cao nhất đối với ngƣời nghệ sỹ.
Để khái quát về cái đẹp ngƣời Nhật, Hoàng Long đã soi chiếu trong nhà văn hiện đại với Quan niệm về cái đẹp của những nhà văn Nhật Bản hiện đại. Tác giả cho rằng “Cái đẹp là cái kích thích tình cảm, cảm giác, tri giác, gợi lên cho ta những khoái cảm bên trong… là những thứ đƣợc giải thoát khỏi mối quan tâm lợi hại cá nhân, mang tính xã hội, khách quan, tất nhiên, phổ biến hơn… tìm kiếm cái đẹp khiến sinh mệnh chúng ta vƣợt lên trên sự thuần túy sinh tồn” [49]. Nhƣ vậy, cái đẹp thuần khiết, cái đẹp tuyệt đối trong quan niệm của ngƣời Nhật có mãnh lực lớn tác động mạnh mẽ cảm hóa hồn ngƣời và cũng là đích đến cho nghệ thuật ngôn từ. Cũng bàn về cái đẹp, các công trình khác cho rằng quan niệm về cái đẹp của ngƣời Nhật và aware cũng hấp thu tinh thần đó từ bản nguồn tôn giáo Nhật Bản.
Trần Tố Loan đã chỉ ra rằng: “Ngƣời Nhật làm nên bản sắc của mình bằng những “tiêu chuẩn” riêng gắn với tôn giáo” 47,68. Theo quan niệm Thần đạo thì cái đẹp gắn với: vẻ tự nhiên, sự thông minh và sự giản dị; còn Phật giáo thì quan niệm cái đẹp chứa đựng vẻ: quyến rũ, tuyệt vời và dƣ tình. Từ sự dung hợp giữa hai yếu tố trên, chỉ cần nói cái đẹp trong một thuật ngữ cô đọng là aware là đủ và bản sắc của ngƣời Nhật là ở aware. “Aware chảy từ suối nguồn tình cảm, tƣ tƣởng và quan niệm của ngƣời Nhật, đồng thời là một nhân tố góp phần tạo nên sự vĩ đại của hệ thống lý 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luận văn học và mỹ học phƣơng Đông” [48,256].
Để minh chứng cho nhận định trên, tác giả đã đƣa ra các luận điểm để lý giải tính đại điện và tiêu biểu của aware để trở thành đặc trƣng của mỹ học Nhật. Cùng quan điểm trên, Nguyễn Thị Mai Liên với Những mỹ học then chốt trong văn học cổ trung đại Nhật Bản đã phân tích các thuật ngữ dùng để chỉ quan niệm từ aware, yugen, wabi, sabi và có cái nhìn xuyên suốt từ Vạn diệp tập, Truyện Genji đến thơ nhằm làm rõ hơn sự ảnh hƣởng quan niệm trong quá trình sáng tạo của nhà thơ nhà văn trong văn bản cụ thể. Tác giả khẳng định “Các thi nhân, văn nhân, các nhà mỹ học Nhật Bản bằng mỹ cảm tinh tế của cá nhân đƣợc khơi nguồn từ dòng chảy mỹ học độc đáo của dân tộc đã sáng tác những áng thiên cổ kỳ bút tôn vinh những cái đẹp cao cả trong thiên nhiên và trong đời sống con ngƣời. Không những thế, với khả năng tƣ duy khái quát cao, họ đã quy tụ những vẻ đẹp tồn tại cụ thể trong thực tại thành những phạm trù mang tính khái quát, hình thành một hệ thống phạm trù, từ đó trở lại góp phần định hƣớng thị hiếu cho độc giả nhất là những độc giả trẻ tuổi.
Đó là lý do vì sao những vẻ đẹp mà văn học Nhật Bản tôn vinh lại cũng là những phƣơng thức sống đƣợc ngƣời Nhật thực hành trong đời sống hàng ngày, hình thành một phong cách sống Nhật Bản rất đƣợc bạn bè thế giới ngƣỡng mộ và đánh giá cao” [44,56]. Từ nhận định trên, bài báo đã chỉ ra sự ảnh hƣởng trở lại của các quan niệm mà cốt lõi là cái đẹp nằm trong thiên nhiên và con ngƣời, trong việc định hình tƣ tƣởng của ngƣời nghệ sỹ khi sản sinh ra tác phẩm nghệ thuật của mình. Bên cạnh đó, trong đời sống, cái đẹp luôn là đặc điểm cơ bản để xã hội hƣớng tới. Theo Lauren Prusinski, “Bằng việc xác định cái đẹp thông qua những phạm trù thẩm mỹ cụ thể, ngƣời Nhật thể hiện sự nhận biết vẻ đẹp của tự nhiên không có tính đặc thù trong bất cứ xã hội nào khác, đặc biệt là trong hoàn cảnh biến động của những sắc màu đô thị.
Nhật Bản luôn là quốc gia chú trọng vào cái đẹp làm trung tâm trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật nhƣ thơ, thƣ pháp, lễ nghi và trong cuộc sống hiện đại của ngƣời Nhật, hàng tiêu dùng và kiến trúc. Với cách nhìn sắc sảo về sự vật hiện tƣợng, ngƣời Nhật đã có những biến đổi theo bản nguồn tự nhiên với những gì nổi bật nhất hơn là thu nhỏ sự hiện diện bên ngoài của xã hội” [123,67]. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ đó có thể thấy, sau khi đƣợc hình thành nhƣ là một khái niệm mỹ học, quan niệm thẩm mỹ cũng ảnh hƣởng trở lại đối với quan niệm về cái đẹp trong nghệ thuật và đời sống của ngƣời Nhật. Donald Richie với Luận về mỹ học Nhật Bản [127] đã đƣa ra các khái niệm mỹ học cơ bản của Nhật và aware tỏa bóng xuống lịch sử văn hóa, là đại diện tiêu biểu của vẻ đẹp Nhật Bản.
Bên cạnh đó, Nancy G. Hume chủ biên công trình Văn hóa và mỹ học Nhật Bản [104] đã có phân tích những cảm thức thẩm mỹ đã tác động đến nghệ thuật Nhật Bản nhƣ thơ và kịch. Hai công trình này đã có khẳng định rằng: quan niệm thẩm mỹ chi phối khá lớn đối với quá trình sáng tạo của ngƣời nghệ sỹ và cái đẹp là hạt nhân của mỹ học Nhật và aware. Bên cạnh đó, từ những phân tích cụ thể về nguồn gốc và ảnh hƣởng của quan niệm thẩm mỹ trong sáng tạo nghệ thuật, các tác giả đã chỉ ra mối quan hệ quan hệ giữa tôn giáo, mỹ học và văn học là không thể tách rời.
Nhƣ vậy, mỹ cảm này thoát thai từ nền văn hóa và là đại diện tiêu biểu cho mỹ học Nhật Bản thời cổ đại. Có thể xem những công trình trên đã chỉ ra đƣợc đặc tính duy mỹ và duy cảm, quan niệm về cái đẹp mang màu sắc tôn giáo đã có những ảnh hƣởng lớn đối với quan niệm thẩm mỹ của ngƣời Nhật và sự hình thành mỹ cảm aware. Ngƣợc lại, các quan niệm thẩm mỹ khi xuất hiện có sự tác động mang tính định hƣớng cho đời sống văn hóa, đặc biệt là quá trình sáng tạo nghệ thuật của ngƣời nghệ sỹ. Đây là đặc điểm độc đáo của nghệ thuật sáng tạo Nhật Bản so với các nền văn hóa khác.
Ngƣời nghệ sỹ có thể tự lựa chọn cho mình một phong cách riêng thông qua việc lựa chọn việc sáng tác theo quan niệm thẩm mỹ nào. Thứ hai, sự hình thành và phát triển của aware chịu ảnh hƣởng của hoàn cảnh xã hội, tôn giáo và tín ngƣỡng, đặc biệt là Thần đạo và Phật giáo đại thừa.