chương 1 đến chương 6 là các vấn đề lý thuyết, các định nghĩa, khái niệm để nhận diện chủ nghĩa hậu hiện đại. Phần 2 từ chương 7 đến chương 20 là sự cụ thể hóa lý thuyết trong những tác phẩm chọn lọc. Phần 3 chương 21 là lời khẳng định về sự phát triển của nền “văn học hậu hiện đại Việt Nam” và những dự báo về xu hướng sáng tác trong thời gian tới. Ở chương 6 của cuốn sách này, Lê Huy Bắc chỉ rõ những khuynh hướng chính của văn học hậu hiện đại, trong đó ông đi sâu vào các khuynh hướng cụ thể như: Chủ nghĩa huyền ảo (thần ma), mảnh vỡ, cực hạn, nhại và giả trinh thám.
Các chương tiếp theo, tác giả chỉ rõ các đặc trưng của hậu hiện đại và soi chiếu chúng trong những tác phẩm tiêu biểu của các tác giả trong và ngoài nước. Cụ thể chương 7: Mờ hóa (declearitation) như bản chất văn chương hậu hiện đại, chương 8: Mã kép (double code) trong hình tượng Aureliano, chương 9: “Giải tôi” (deself) trong Nhạc đời may rủi, chương 10: Ngẫu nhiên (contigency) trong Nhạc đời may rủi, chương 11: Đa điểm nhìn (multipoint of view) trong Cụ già với đôi cánh khổng lồ, chương 12: Nghịch lí (paradox) trong Bay trên tổ chim cúc cu, chương 13: Đa văn bản (multitexttuality) trong Chiếc thuyền ngoài xa, chương 14: “Bậc hiền triết - con chó xồm” hay nhại (padody) của Nguyễn Huy Thiệp, chương 15: Hỗn độn (chaos) khi Tướng về hưu và Không có vua, chương 16: Giải luận đề (dethesis) trong Sang song, chương 17: Tính dục (sexuality) trong Cánh đồng bất tận, chương 18: “Hồn” và “xác” hay tính đa trị (multivalence) trong Hồn Trương Ba, da hàng thịt, chương 19: Liên văn bản (intertexttuality) trong Đàn ghita của Lorca, chương 20: Tiểu tự sự (petit narrative) trong Nỗi buồn chiến tranh. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể nói, đây là những phân tích hết sức cô đọng và thực tiễn qua từng tác phẩm cụ thể để giúp cho chúng ta có cái nhìn thông suốt hơn về lý thuyết, về những đặc trưng chính của văn học hậu hiện đại. Trước đó, năm 2003 Lê Huy Bắc đã tuyển chọn và xuất bản cuốn Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới, trong đó ông chỉ ra được những đặc điểm chính của chủ nghĩa hậu hiện đại là “đa trị, huyền ảo, lắp ghép, mảnh vỡ, cực hạn, phi trung tâm, phi mạch lạc, hạn chế tối đa vai trò thống trị của người kể chuyện, không quan tâm đến cốt chuyện, kịch và văn xuôi mang nhiều đặc điểm của thơ” [14, tr.
Dù chỉ là lời giới thiệu sơ qua, nhưng nó cũng cho độc giả những hình dung rõ hơn về chủ nghĩa hậu hiện đại. Với những cuốn sách đã được xuất bản, Lê Huy Bắc tỏ ra là một người am hiểu sâu sắc về hậu hiện đại. Ngoài ra ông cũng còn nhiều công trình, bài viết khác đăng trên các website, tạp chí. Ví dụ, trong bài viết Những khuynh hướng chính trong văn chương hậu hiện đại (đăng trên website nguvan.vn), ông đã nêu lên các khuynh hướng chính của văn chương hậu hiện đại là: chủ nghĩa huyền ảo (thần ma), mảnh vỡ, cực hạn, nhại, giả trinh thám.
Đây cũng chính là một phần của cuốn sách Văn học hậu hiện đại lí thuyết và tiếp nhận. Về lĩnh vực phê bình nghiên cứu, đã xuất hiện rất nhiều công trình liên quan đến vấn đề này. Có thể coi Phương Lựu là người “mở màn” cho việc nghiên cứu về học thuyết hậu hiện đại với bài viết Tìm hiểu chủ nghĩa hậu hiện đại (Tạp chí Nhà văn, số 8/2000). Cũng chính từ bài viết này, đã nổ ra cuộc tranh luận giữa Phương Lựu và Nguyễn Văn Dân về việc khẳng định và phủ nhận sự tồn tại của những dấu hiệu và chủ nghĩa hậu hiện đại tại Việt Nam.
Trong bài viết tựa đề Chủ nghĩa hậu hiện đại - tồn tại hay không tồn tại (đăng trên website Vanvn.net), Nguyễn Văn Dân bày tỏ quan điểm của mình: “Lý do lên ngôi của khái niệm “hậu hiện đại” một phần là do trong giới văn nghệ nước ta đang có sự hẫng hụt về chủ nghĩa hiện đại. Đến khi gần đây thấy có người nói đến hậu hiện đại, thế là người ta chỉ biết có hậu hiện đại và nghiễm nhiên coi các trào lưu hiện đại trong văn nghệ xuất hiện từ đầu thế kỷ XX là hậu hiện đại” [20]. Trong các bài viết, nghiên cứu khác của mình, ông cũng “đã phân tích và chỉ ra sự lạm dụng khái niệm hậu hiện đại cả trên thế giới lẫn ở Việt Nam đến mức đã biến nó thành một thuật ngữ vô nghĩa”[20]. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Văn Dân phân tích các luận điểm để chứng minh so với chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại không có gì quá khác biệt, các luận điểm đó là: Sự phi lý tính, sự phi chủ thể, tính phi xác định về không gian và thời gian, tính đại chúng, chủ nghĩa hậu hiện đại chủ trương độc thoại (trong khi chủ nghĩa hiện đại chủ trương đối thoại), sự có mặt của chủ nghĩa chiết trung mang tính kết hợp giữa hiện đại với quá khứ truyền thống trong chủ nghĩa hậu hiện đại.
Ông chứng minh rằng tất cả những đặc điểm đó đều đã xuất hiện trong văn học hiện đại, không phải là điều gì quá mới mẻ, độc đáo, riêng biệt. Và theo ông, như vậy, nên cho rằng “chủ nghĩa hậu hiện đại là giai đoạn kịch phát của chủ nghĩa hiện đại là có vẻ xác đáng và bao quát hơn cả” [20]. Cuối cùng, ông đưa ra khái niệm siêu (hoặc tối) hiện đại thì hợp lý hơn là khái niệm hậu hiện đại. Đồng thời, để chứng minh rằng việc giới nghiên cứu trong nước sử dụng khái niệm “hậu hiện đại” là một sự “hồn nhiên và dễ dãi”, do sự “hẫng hụt của chủ nghĩa hiện đại” và là sự “lạm dụng” trên mức cần thiết, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân lấy dẫn chứng tác phẩm Lý thuyết văn học hậu hiện đại và Tìm hiểu lý luận văn học phương Tây hiện đại của nhà nghiên cứu Phương Lựu.
Trong đó, ông chỉ ra sự lúng túng, cẩu thả, “nói theo” và không có quan điểm riêng của giới nghiên cứu trong nước về trào lưu này. Đồng quan điểm với Nguyễn Văn Dân về tương lai của một nền hậu hiện đại tại Việt Nam, nhà nghiên cứu Lưu Chí Dũng trong bài phỏng vấn Phải chăng chẳng bao lâu nữa lối viết hậu hiện đại sẽ phổ biến ở Việt Nam? khẳng định chắc nịch: “Chủ nghĩa hậu hiện đại, với tư cách là một trào lưu văn học, không có tiền đồ ở Việt Nam” [24]. Ngoài việc phủ nhận những yếu tố hậu hiện đại trong văn học Việt Nam, một số ý kiến khác - mặc dù công nhận yếu tố hậu hiện đại, nhưng không chào đón và phản bác nó bằng cách chỉ ra những “mặt tối” và những hạn chế của một tác phẩm văn học hậu hiện đại. Ví dụ, nhà thơ dân tộc Triệu Lam Châu đã có bài viết Phải chăng thơ hậu hiện đại Việt Nam chấp nhận sự vô văn hóa và Thêm một bằng chứng về sự vô văn hóa của thơ hậu hiện đại Việt Nam (đăng trên website Trithucdantocthieuso.
Trong đó, tác giả xoáy sâu vào sự thô tục, dễ dãi trong ngôn từ của thơ ca (hậu hiện đại) Việt Nam, đồng thời nêu lên nghi vấn về thành tựu của văn học hậu hiện đại khi nếu lên “nghi vấn” rằng, cả thập kỉ hình thành và lớn mạnh của phong trào sáng tác hậu hiện đại, cộng với non mười năm thơ tân hình 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thức xuất hiện và phát triển, vậy tại sao Hội Nhà văn chưa có một hội thảo nhỏ, lớn nào bất kì về chúng? Vậy, phải chăng lối sáng tác hậu hiện đại đã thực sự là một “trào lưu” lớn tại Việt Nam? Các nhà nghiên cứu như Nguyễn Văn Dân hay Lưu Chí Dũng đều dựa trên quan điểm lịch sử, văn hóa và xã hội để bảo vệ ý kiến của mình. Họ cho rằng trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam vẫn giữ được bản sắc của mình và tạo ra hệ thống chữ viết riêng (chữ Nôm), không bị đồng hóa với văn hóa phương Bắc. Văn học Việt Nam hiện đại đã và sẽ luôn “giữ gìn bản sắc dân tộc”, dù có những đổi mới, sáng tạo thì cũng luôn giữ được bản sắc và các giá trị riêng của mình. Vậy không có lý do gì để khẳng định văn học Việt Nam hiện nay đã và sẽ đi theo trào lưu hậu hiện đại của thế giới.
Thực chất, ý kiến của các nhà nghiên cứu trên cũng không hẳn là không có phần xác đáng. Các tiền đề về mặt tư tưởng cũng như sự phát triển về kinh tế, xã hội Việt Nam chưa đủ để đạt đến ngưỡng của hậu hiện đại. Nhận thức trong sáng tạo, vì thế cũng còn những hạn chế, rào cản nhất định. Vậy nên, nếu cho rằng Việt Nam chưa có một nền văn học hậu hiện đại theo đúng nghĩa, thì cũng không sai.
Tuy nhiên, sẽ là cực đoan nếu hoàn toàn phủ nhận những dấu ấn hậu hiện đại trong các sáng tác giai đoạn từ sau 1986 đến nay. Trước những nghi vấn, phản bác của những người “theo phe chống lại hậu hiện đại trong văn học Việt Nam” (tạm gọi là như vậy), đã có những trao đổi thẳng thắn (nhưng đôi lúc cũng không kém phần gay gắt) của phe “khẳng định sự tồn tại của các yếu tố hậu hiện đại”. Nhà nghiên cứu Phương Lựu đã có bài viết với tiêu đề Phương Lựu trao đổi với Nguyễn Văn Dân. Ngoài những vấn đề cá nhân, thì trong bài viết này, Phương Lựu đã chỉ rõ những đặc điểm khác biệt của chủ nghĩa hậu hiện đại so với chủ nghĩa hiện đại, ông cũng nhận định Nguyễn Văn Dân, mặc dù “rất kiên quyết muốn nói không, nhưng rồi không thể nào quên đi được sự cảm nhận của mình là có” [71] về những yếu tố hậu hiện đại đã xuất hiện trong văn học Việt Nam.
Theo quan điểm của Phương Lựu, một khi đã tồn tại các dấu hiệu hậu hiện đại, tức nền văn học đã được coi là hậu hiện đại. Một số ý kiến, đánh giá khác của những người khẳng định sự tồn tại những yếu tố hậu hiện đại trong văn học Việt Nam cũng cho rằng, mặc những ý kiến trái chiều, trong tâm thức của những người phủ định vẫn mặc nhiên cảm nhận và công 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhận sự hiện hữu của những yếu tố hậu hiện đại đã xuất hiện trong nền văn học Việt Nam. Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Tuấn (Việt kiều Úc) trong bài trả lời tác giả Lê Chí Dũng (bài phản bác có tựa đề: Chủ nghĩa hậu hiện đại có đáng sợ thế không? trên website tienve.