Tổng quan nghiên cứu

Cộng đồng người Lô Lô tại tỉnh Hà Giang là một trong những tộc người thiểu số có bề dày lịch sử đặc sắc nhưng quy mô dân số rất khiêm tốn. Theo số liệu thống kê ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thống kê huyện Mèo Vạc và huyện Đồng Văn, toàn tỉnh chỉ có 1.687 nhân khẩu người Lô Lô, trong đó huyện Mèo Vạc tập trung 992 người và huyện Đồng Văn có 695 người. Địa bàn cư trú của đồng bào trải rộng trên vùng sơn nguyên đá vôi hiểm trở ở độ cao trung bình từ 800 mét đến 1.200 mét so với mực nước biển. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự giao thoa văn hóa diễn ra nhanh chóng, di sản truyền khẩu của đồng bào đối diện với nguy cơ mai một nghiêm trọng. Mặc dù đã có một số tài liệu sưu tầm bước đầu, việc nghiên cứu truyện kể dân gian Lô Lô từ góc độ văn hóa tộc người vẫn chưa được tiến hành một cách toàn diện và có hệ thống.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam với mã số 8 22 01 21 của tác giả Tống Ngọc Huyền, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Huy Bỉnh tại Trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Thái Nguyên vào năm 2022, đã giải quyết thấu đáo khoảng trống học thuật này. Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ sự tác động qua lại biện chứng giữa truyện kể dân gian với môi trường văn hóa tộc người, từ đó định vị hệ giá trị tinh thần đặc thù của đồng bào. Phạm vi khảo sát tập trung tại 6 xã, thị trấn trọng điểm gồm Lũng Cú, Lũng Táo, Sủng Là thuộc huyện Đồng Văn và Thị trấn Mèo Vạc, Thượng Phùng, Xín Cái thuộc huyện Mèo Vạc trong giai đoạn 2021 - 2022. Công trình mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn to lớn khi phục dựng bức tranh lịch sử hơn 500 năm định cư, phân tích 26 truyện kể mẫu mực và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn văn hóa phi vật thể tại Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn triển khai nghiên cứu dựa trên định hướng liên ngành giữa văn học dân gian và văn hóa học. Cơ sở lý thuyết của đề tài kế thừa quan điểm của tác giả Phan Hữu Dật về 3 tiêu chuẩn cốt lõi xác định tộc người gồm tiếng nói chung, ý thức tự giác tộc người và các yếu tố văn hóa thống nhất. Đồng thời, tác giả vận dụng luận điểm của nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, coi văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tố đặc thù thực hiện chức năng cố kết cộng đồng và phân biệt tộc người này với tộc người khác. Nghiên cứu cũng tiếp thu phương pháp tiếp cận tác phẩm từ quan điểm văn hóa học của tác giả Trần Nho Thìn và định hướng phân tích chức năng văn hóa tộc người của tác giả Chu Xuân Diên nhằm phục nguyên không gian sinh hoạt văn hóa nguyên hợp.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên sự tương tác đa chiều: truyện kể dân gian vừa là hiện tượng nghệ thuật ngôn từ, vừa là thành tố văn hóa phản ánh và định hình các thiết chế xã hội. Trong khuôn khổ đề tài, 4 khái niệm then chốt được chuẩn hóa gồm:

  • Truyện kể dân gian: loại hình tự sự dân gian dùng phương thức kể và ngôn ngữ văn xuôi để phản ánh đời sống qua cốt truyện và nhân vật.
  • Văn hóa tộc người: diện mạo văn hóa dân gian mang tính bản sắc, kết tinh qua hơn 500 năm lịch sử thích ứng tự nhiên.
  • Văn hóa tâm linh: hệ thống niềm tin thiêng liêng vào thế giới siêu nhiên, thần linh bản mệnh và nghi lễ thờ cúng tổ tiên.
  • Xã hội tộc người: tổng hòa các mối quan hệ gia đình phụ quyền và cộng đồng bản làng gắn bó chặt chẽ.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và khoa học, luận văn khai thác 2 nguồn tư liệu chính. Nguồn thư tịch căn cứ vào 26 tác phẩm truyện kể được in ấn trong tập Truyện cổ Lô Lô (tập 1, tái bản năm 1994) do hai tác giả Lò Giàng Páo và Hoàng Nam sưu tầm, biên soạn, kết hợp với các công trình địa chí, dân tộc học. Nguồn thực địa được thu thập qua các đợt điều tra điền dã trực tiếp tại địa phương.

Về quy mô mẫu nghiên cứu, tác giả khảo sát toàn bộ 26 truyện kể hoàn chỉnh từ nguồn thư tịch và chọn mẫu điền dã chuyên sâu tại 6 xã, thị trấn cư trú tập trung của cả 2 nhóm Lô Lô Đen và Lô Lô Hoa. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp chọn mẫu phi xác suất theo cụm địa bàn cư trú, nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho văn hóa của 1.687 người dân bản địa.

Tác giả vận dụng phối hợp 4 phương pháp nghiên cứu chuyên biệt gồm: phương pháp điền dã dân tộc học để ghi nhận dữ liệu sống; phương pháp loại hình để phân chia truyện kể thành thần thoại và cổ tích; phương pháp phân tích, tổng hợp để cắt nghĩa các biểu tượng tâm linh; phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học, lịch sử, văn hóa học để đánh giá tác phẩm trong chỉnh thể không gian văn hóa. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là vì văn học dân gian mang tính nguyên hợp, không thể tách rời các nghi lễ vòng đời và sinh hoạt cộng đồng. Toàn bộ lộ trình khảo sát và phân tích dữ liệu được hoàn thành trong chu kỳ 2 năm từ 2021 đến 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát hệ thống 26 tác phẩm truyện kể dân gian Lô Lô mang lại 4 phát hiện quan trọng có giá trị khoa học cao:

Thứ nhất, về cơ cấu thể loại, kho tàng truyện kể Lô Lô tại Hà Giang phân hóa rõ nét thành 2 bộ phận chính: 11 truyện thần thoại (chiếm 42,3%) và 15 truyện cổ tích (chiếm 57,7%). Tỷ lệ này minh chứng cho bước chuyển biến quan trọng trong tư duy nghệ thuật của đồng bào, từ việc giải thích nguồn gốc vũ trụ nguyên sơ sang nhận thức sâu sắc về xung đột giai cấp và các chuẩn mực đạo đức xã hội.

Thứ hai, văn hóa tâm linh trong truyện thần thoại bộc lộ đậm nét qua tín ngưỡng vạn vật hữu linh. Có tới hơn 70% truyện thần thoại (tiêu biểu như Quả bầu mẹ, Sự tích cây lúa, Thần đá, Thần cây) tập trung tôn vinh nhiên thần và nhân thần có công khai hoang, đào mương dẫn nước. Đặc biệt, truyền thuyết Bố Trời Mẹ Đất và hình tượng quả bầu mẹ phản ánh niềm tin thiêng liêng về nguồn gốc loài người, giải thích sự ra đời của các nhánh tộc người cùng chung một cội nguồn sinh dưỡng.

Thứ ba, bảo vật trống đồng xuất hiện nổi bật trong 2 tác phẩm thần thoại riêng biệt gồm Sự tích trống đực trống cái và Sự tích trống đồng bị thủng hai lỗ trước mặt. Trống đồng được xác định là khí cụ thiêng liêng kết nối giữa cõi sống và cõi chết. Trong thực hành tang ma truyền thống kéo dài 3 ngày 3 đêm, người Lô Lô bắt buộc phải sử dụng 1 bộ gồm 2 chiếc (trống đực và trống cái) để giữ nhịp cho 4 đôi nam nữ thực hiện các điệu múa ma tiễn biệt người quá cố về với tổ tiên.

Thứ tư, 100% truyện cổ tích khảo sát (như Hai anh em mồ côi, Hai chị em Vùi và Lu, Anh lười lấy vợ khỉ) phản ánh chân thực các mối quan hệ xã hội phức tạp. Các xung đột gia đình phụ quyền giữa dì ghẻ và con chồng, giữa anh và em luôn kết thúc bằng thắng lợi của người lương thiện, qua đó khẳng định tinh thần tương thân tương ái và đề cao lao động sản xuất trên nương đá.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh mối quan hệ nhân quả chặt chẽ giữa truyện kể và môi trường sinh thái nhân văn. Cư trú trên vùng núi đá vôi có độ dốc cao từ 800 mét đến 1.200 mét, chịu đựng biên độ nhiệt khắc nghiệt từ 0 độ C vào mùa đông đến 40,7 độ C vào mùa hè, tình trạng thiếu nước quanh năm buộc người Lô Lô phải sáng tạo ra những câu chuyện thần thoại về anh hùng dẫn nước để củng cố ý chí sinh tồn. Tổ chức dòng họ chặt chẽ từ 3 đến 5 đời dưới sự điều hành của Thầu Chư chính là bệ đỡ xã hội giúp đồng bào bảo tồn nguyên vẹn các luật tục được truyền tải trong truyện kể.

So sánh với công trình của tác giả Nguyễn Văn Huy vào năm 1985 về nhóm ngôn ngữ Hà Nhì - Lô Lô gồm 6 dân tộc, nghiên cứu của Tống Ngọc Huyền đã làm rõ nét riêng biệt không thể hòa lẫn của người Lô Lô Hà Giang. Nếu các nghiên cứu giai đoạn 1983 - 1994 của Lò Giàng Páo và Hoàng Nam chủ yếu dừng lại ở mức độ sưu tầm văn bản, thì luận văn này đã tiến xa hơn khi giải mã toàn diện các tầng mã văn hóa ẩn sau câu chữ.

Dữ liệu của luận văn có thể được trình bày trực quan thông qua 2 dạng thức: biểu đồ hình quạt thể hiện tỷ lệ thể loại (42,3% thần thoại so với 57,7% cổ tích) và bảng ma trận đối sánh 2 nhóm địa phương. Qua đó, người đọc dễ dàng nhận thấy sự khác biệt: nhóm Lô Lô Đen ở Đồng Văn mặc váy, gìn giữ tục làm ma khô và điệu múa khỉ độc đáo; trong khi nhóm Lô Lô Hoa ở Mèo Vạc mặc quần ống ghép vải hoa văn tam giác tinh xảo và trao quyền quyết định việc cưới xin cho vai trò của ông cậu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy bền vững giá trị di sản truyện kể dân gian người Lô Lô, 4 giải pháp đồng bộ cần được triển khai quyết liệt:

  • Số hóa di sản văn hóa phi vật thể: Tiến hành ghi âm, ghi hình diễn xướng và số hóa 100% văn bản truyện kể dân gian của 2 nhóm Lô Lô Đen và Lô Lô Hoa. Mục tiêu xây dựng kho lưu trữ số đa phương tiện hoàn thành trước năm 2025. Cơ quan chủ trì thực hiện là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang phối hợp với Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam.
  • Trao truyền văn nghệ dân gian trong cộng đồng: Khôi phục không gian kể chuyện dân gian truyền thống tại các nhà văn hóa cộng đồng, tổ chức đào tạo truyền dạy cho tối thiểu 50 thanh thiếu niên tại thôn Lô Lô Chải (Đồng Văn) và thôn Sang Pả A (Mèo Vạc). Ủy ban nhân dân huyện Mèo Vạc và Đồng Văn chịu trách nhiệm cấp ngân sách và giám sát thực hiện định kỳ hàng quý trong giai đoạn 2024 - 2026.
  • Đưa truyện kể vào chương trình giáo dục bản địa: Biên soạn sách truyện tranh song ngữ Việt - Lô Lô và đưa vào giảng dạy ngoại khóa tại 100% các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn, tiêu biểu như Trường Trung học phổ thông Mèo Vạc và Trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Tùng Bá. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Giang chủ trì hoàn thiện giáo trình trước thềm năm học 2025 - 2026.
  • Kết nối bảo tồn di sản với phát triển du lịch bền vững: Khai thác các cốt truyện thần thoại, truyền thuyết quả bầu mẹ và nghệ thuật diễn xướng trống đồng thành sản phẩm du lịch trải nghiệm văn hóa. Ban Quản lý Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn phối hợp cùng các hợp tác xã du lịch cộng đồng triển khai, hướng tới mục tiêu tăng 25% thu nhập du lịch cho người dân bản địa và kéo giảm tỷ lệ tảo hôn xuống dưới 5% vào năm 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Giới nghiên cứu văn hóa dân gian, dân tộc học và nhân học: Tài liệu cung cấp hệ thống 26 văn bản truyện kể được giải mã khoa học, là nguồn ngữ liệu tin cậy để đối sánh văn hóa các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến tại khu vực miền núi phía Bắc.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Ngữ văn, Văn hóa học: Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa, giúp người học nắm vững kỹ năng xử lý dữ liệu điền dã kết hợp lý thuyết liên ngành trong các công trình nghiên cứu học thuật.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách tại địa phương: Công trình cung cấp bức tranh nhân khẩu học chi tiết của 1.687 đồng bào Lô Lô tại 2 huyện Mèo Vạc và Đồng Văn, tạo cơ sở thực tiễn vững chắc để xây dựng các chính sách bảo tồn ngôn ngữ, trang phục và phong tục tập quán truyền thống.
  • Chuyên gia phát triển du lịch và các doanh nghiệp lữ hành: Luận văn gợi mở cách thức chuyển hóa các biểu tượng thần thoại, hoa văn trống đồng và kiến trúc nhà trình tường thành những câu chuyện truyền thông di sản độc đáo, nâng cao sức hấp dẫn cho các tour du lịch cộng đồng vùng cao nguyên đá.

Câu hỏi thường gặp

  • Điều kiện địa lý ảnh hưởng như thế nào đến nội dung truyện kể dân gian Lô Lô? Địa bàn cư trú ở độ cao 800 - 1.200 mét với khí hậu khô hạn và nương đá dốc đã in đậm dấu ấn vào truyện kể. Các tác phẩm thần thoại thường tập trung giải thích nguồn gốc các mỏ nước, tôn vinh những người anh hùng có công khai phá đất hoang và đúc kết kinh nghiệm xen canh gối vụ ngô, tam giác mạch.

  • Vai trò tâm linh của trống đồng trong tang ma người Lô Lô được quy định ra sao? Trống đồng được coi là vật thiêng kết nối hai cõi âm dương, chỉ được mang ra sử dụng khi làm ma cho người già đã sống trọn vẹn vòng đời. Một bộ gồm 2 chiếc (trống đực và trống cái) được người đàn ông chưa vợ gõ nhịp cho 4 đôi nam nữ múa ma suốt 3 ngày đêm để dẫn đường cho linh hồn về mường trời.

  • Điểm khác biệt rõ nét nhất giữa nhóm Lô Lô Đen và Lô Lô Hoa tại Hà Giang là gì? Về văn hóa vật chất và nghi lễ, phụ nữ Lô Lô Đen mặc váy ống và duy trì tục làm ma khô với điệu múa khỉ hóa trang áo cỏ. Ngược lại, phụ nữ Lô Lô Hoa mặc quần ống trang trí hoa văn tam giác ghép vải rực rỡ và coi trọng tuyệt đối quyền hạn của người cậu trong nghi thức cưới xin.

  • Tập quán hôn nhân truyền thống của người Lô Lô có những nét đặc thù nào? Hôn nhân truyền thống mang tính phụ quyền với độ tuổi kết hôn khá sớm từ 13 đến 16 tuổi. Tục lệ dòng họ cho phép con trai cô lấy con gái cậu. Lễ dạm hỏi bắt buộc phải có 4 người làm mối đại diện cho tứ chi con người mang lễ vật đến trao cho ông cậu nhà gái để xin định ngày cưới.

  • Ý nghĩa của tục ăn trộm lấy may đêm giao thừa ở người Lô Lô Đen là gì? Vào thời khắc giao thừa, người Lô Lô Đen bí mật đi lấy trộm 12 vật phẩm tượng trưng cho 12 tháng trong năm như bắp ngô, thanh củi hoặc bó rơm. Nếu lấy trót lọt mà không bị gia chủ phát hiện, gia đình tin rằng năm mới sẽ gặp nhiều may mắn, mùa màng bội thu và chăn nuôi thuận lợi.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện 26 tác phẩm truyện kể dân gian tiêu biểu của người Lô Lô tại 2 huyện Mèo Vạc và Đồng Văn tỉnh Hà Giang.
  • Xác lập cơ sở khoa học vững chắc chứng minh truyện kể dân gian là tấm gương phản chiếu trung thực đời sống tâm linh đa thần và quan hệ xã hội phụ quyền tộc người.
  • Phục dựng diện mạo văn hóa giàu bản sắc của 2 nhánh Lô Lô Đen và Lô Lô Hoa trong tiến trình hơn 500 năm chinh phục và thích ứng với cao nguyên đá Hà Giang.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi cho giai đoạn 2023 - 2026 nhằm gắn kết chặt chẽ công tác bảo tồn di sản với phát triển kinh tế du lịch bền vững.
  • Kêu gọi sự chung tay trách nhiệm từ các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và cộng đồng xã hội để tiếp tục giữ gìn, trao truyền ngọn lửa văn hóa độc đáo của đồng bào Lô Lô cho các thế hệ mai sau.