Tổng quan nghiên cứu

Kho tàng truyện cổ dân gian các dân tộc thiểu số tại Việt Nam là di sản văn hóa tinh thần vô giá, phản ánh thế giới quan và tâm hồn của đồng bào miền núi. Tại tỉnh Tuyên Quang, địa bàn cư trú lâu đời của 22 dân tộc anh em với diện tích tự nhiên 5.868 km2, đồng bào dân tộc Tày chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Theo số liệu thống kê dân số, người Tày tại Tuyên Quang có 185.464 người, chiếm 25,6% dân số toàn tỉnh và tương đương 11,4% tổng số người Tày trên toàn quốc. Sống tập trung chủ yếu tại các huyện Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình, người Tày đã sáng tạo và lưu truyền một hệ thống truyện kể dân gian đồ sộ, phong phú bậc nhất khu vực miền núi phía Bắc.

Trước tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa và hội nhập văn hóa, nhiều giá trị truyện cổ truyền miệng của đồng bào Tày đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng khi số lượng nghệ nhân cao tuổi ngày càng giảm sút. Bên cạnh đó, việc thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đặt ra yêu cầu cấp thiết về nguồn tư liệu văn học địa phương chuẩn xác, có tính hệ thống cao để đưa vào giảng dạy bắt buộc tại 100% các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh.

Xuất phát từ thực tiễn trên, công trình nghiên cứu chuyên sâu về truyện cổ tích dân tộc Tày tại Tuyên Quang được thực hiện nhằm mục tiêu thống kê, phân loại khoa học và giải mã toàn diện các giá trị nội dung, thi pháp nghệ thuật của di sản này. Phạm vi nghiên cứu bao quát 34 truyện cổ tích Tày tiêu biểu được sưu tầm từ các huyện vùng cao, đối sánh trực tiếp với 103 truyện cổ tích các dân tộc Tuyên Quang. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người mà còn thiết lập hệ thống ngữ liệu chuẩn mực, phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn tài liệu giáo dục địa phương lớp 6 và lớp 10, đồng thời thúc đẩy phát triển du lịch di sản bền vững tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết thi pháp học tự sự dân gian kết hợp nhân loại học văn hóa để giải mã cấu trúc tác phẩm văn học truyền miệng. Luận văn lấy quan điểm về thể loại tự sự dân gian của các nhà nghiên cứu đầu ngành làm điểm tựa lý luận, xác định truyện cổ tích là những sáng tác tự sự dân gian hư cấu có chủ tâm, phản ánh xung đột xã hội và ước mơ công lý của nhân dân lao động qua phương thức kỳ ảo hóa.

Ba khái niệm học thuật then chốt được triển khai xuyên suốt gồm: thế giới nghệ thuật hư cấu, nhân vật lý tưởng và không gian - thời gian nghệ thuật. Trong đó, hệ thống nhân vật lý tưởng được phân tích dựa trên sự đối lập giữa hai tuyến nhân vật thiện và ác, đóng vai trò phương tiện chuyển tải quan niệm đạo đức truyền thống. Đặc biệt, nghiên cứu kế thừa quan điểm phân loại truyện kể dân gian của Đỗ Bình Trị và Chu Xuân Diên, đồng thời tiếp thu cách phân loại truyện cổ địa danh của Trần Thị An để xây dựng khung phân loại 4 tiểu loại phù hợp với đặc thù văn hóa tộc người Tày: cổ tích thần kỳ, cổ tích sinh hoạt, cổ tích loài vật và cổ tích địa danh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khảo sát trên cỡ mẫu gồm 34 tác phẩm truyện cổ tích dân tộc Tày, được tuyển chọn từ tổng thể 103 truyện dân gian trong cuốn Tuyển tập truyện cổ tích Tuyên Quang do Trường Đại học Tân Trào xuất bản năm 2016, kết hợp đối sánh 30 truyện trong tập Truyện cổ Nà Hang xuất bản năm 2007. Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng nhằm thu thập những văn bản mang đậm dấu ấn phong tục, tín ngưỡng và địa hình của người Tày tại 3 khu vực trọng điểm: Na Hang, Chiêm Hóa và Lâm Bình.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thi pháp học liên ngành kết hợp với thống kê định lượng và điền dã dân tộc học bắt nguồn từ tính nguyên hợp của văn học dân gian. Nếu chỉ phân tích văn bản học đơn thuần sẽ dễ bỏ sót mối liên hệ mật thiết giữa tác phẩm với môi trường diễn xướng bản địa. Do đó, tác giả đã tiến hành phương pháp điền dã thực địa trong 12 tháng tại các xã vùng cao, phỏng vấn sâu 15 già làng, nghệ nhân dân gian và các nhà nghiên cứu văn hóa địa phương để kiểm chứng độ xác thực của các văn bản sưu tầm. Việc kết hợp phương pháp so sánh loại hình giúp chỉ ra sự giao thoa văn hóa giữa truyện cổ tích Tày với truyện kể của người Kinh và các dân tộc lân cận như Dao, Cao Lan.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Qua quá trình thống kê định lượng và phân tích tác phẩm, luận văn đưa ra 4 phát hiện mang tính đột phá về diện mạo truyện cổ tích Tày Tuyên Quang:

Thứ nhất, truyện cổ tích địa danh chiếm tỷ lệ áp đảo với 17/34 tác phẩm, tương đương 50,0% tổng số truyện cổ tích người Tày được khảo sát. Tỷ lệ này cao vượt trội so với cấu trúc truyện cổ tích người Kinh, chứng minh phương thức tư duy gắn kết máu thịt giữa cộng đồng người Tày với môi trường tự nhiên vùng cao qua các tác phẩm tiêu biểu như Sự tích núi Pác Tạ, Sự tích Ao Trời, Sự tích thác Mưa Rơi.

Thứ hai, nhóm truyện cổ tích thần kỳ chiếm 29,4% với 10/34 tác phẩm, phản ánh sâu sắc khát vọng công bằng xã hội thông qua các nhân vật mồ côi, người đội lốt và người nghèo khổ được lực lượng siêu nhiên phù trợ. Nhóm truyện cổ tích loài vật chiếm 11,8% với 4/34 tác phẩm, chiếm tới 30,8% trong tổng số 13 truyện loài vật của toàn tỉnh Tuyên Quang. Tiểu loại cổ tích sinh hoạt chiếm 8,8% với 3/34 truyện, tập trung phê phán thói tham lam, lười biếng và đề cao trí thông minh thực tế.

Thứ ba, 100% tác phẩm khảo sát đều lưu giữ đậm nét các phong tục, tập quán cổ truyền của cư dân nông nghiệp lúa nước thung lũng. Các chi tiết nghệ thuật về nếp nhà sàn truyền thống, hội Lồng Tông, tục ăn trầu, canh giữ thi hài cha mẹ trong Sự tích bàn chân người, cùng câu tục ngữ chỉ dẫn thời vụ "Thìn khấu, dậu phái" khẳng định vai trò lưu giữ trầm tích văn hóa lâu đời của thể loại này.

Thứ tư, nguyên lý đạo đức nhân sinh "ở hiền gặp lành - ác giả ác báo" chi phối 94,1% cốt truyện (32/34 tác phẩm). Dù nhân vật phải trải qua nhiều thử thách nghiệt ngã, kết cục công bằng luôn được xác lập, thể hiện tinh thần lạc quan và niềm tin sắt đá của người lao động vào sự chiến thắng của cái thiện.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu thể loại trong truyện cổ tích Tày Tuyên Quang có sự phân hóa rõ rệt, có thể được biểu đạt trực quan thông qua biểu đồ tròn tỷ lệ 4 tiểu loại: địa danh chiếm 50,0%, thần kỳ chiếm 29,4%, loài vật chiếm 11,8% và sinh hoạt chiếm 8,8%. Sự vượt trội của mảng truyện địa danh xuất phát từ đặc điểm địa hình chia cắt mạnh mẽ với núi cao, đèo dốc và hệ thống sông Gâm, sông Năng. Người Tày xưa không chỉ giải thích tên gọi địa lý đơn thuần mà còn nhân hóa cảnh quan, biến từng ngọn núi, con đèo thành chứng tích cho tình yêu thủy chung, lòng hiếu thảo và tinh thần chống giặc ngoại xâm.

So sánh với truyện cổ tích đồng bằng Bắc Bộ, truyện cổ tích Tày ít xuất hiện yếu tố vua chúa, quan lại hay thi cử đỗ đạt, mà không gian nghệ thuật chủ yếu xoay quanh bản làng, nương rẫy, hang động và cánh rừng nguyên sinh. Khi đối sánh bảng dữ liệu mô típ cốt truyện, nghiên cứu nhận thấy hiện tượng giao thoa rõ nét giữa truyện kể vùng lòng hồ Na Hang với truyện cổ của người Tày, Dao tại vùng hồ Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn lân cận (tiêu biểu như Sự tích con rồng cụt đuôi, Lấy vợ Tiên, Tài Ngào). Điểm độc đáo nằm ở chỗ truyện cổ tích Tày tại Tuyên Quang đã bản địa hóa các yếu tố hoang đường thành những hình ảnh gần gũi với đời sống miền núi như chiếc quẩy tấu, cái loỏng gỗ, bè mảng qua sông, tạo nên diện mạo mộc mạc, khoáng đạt và chân thực.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn và phát huy bền vững giá trị truyện cổ tích dân tộc Tày, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu di sản trực tuyến: Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang thực hiện số hóa 100% kho tàng 34 truyện cổ tích Tày dưới dạng văn bản điện tử song ngữ Việt - Tày, kết hợp thu âm 34 file podcast diễn xướng dân gian chuẩn bản địa, hoàn thành mục tiêu xây dựng kho lưu trữ số trước quý 4 năm 2024.

  2. Chuẩn hóa ngữ liệu đưa vào chương trình giáo dục phổ thông: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tuyên Quang chỉ đạo tổ chức tập huấn cho 100% giáo viên Ngữ văn cấp THCS và THPT trên địa bàn tỉnh về phương pháp giảng dạy tích hợp văn học địa phương. Đưa tối thiểu 5 truyện cổ tích địa danh tiêu biểu (như Sự tích núi Pác Tạ, Đèo Cổ Yểng) vào nội dung giảng dạy chính khóa theo Chương trình GDPT 2018, bắt đầu triển khai toàn diện từ năm học 2024 - 2025.

  3. Khai thác cốt truyện phục vụ phát triển du lịch sinh thái Na Hang - Lâm Bình: Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Tuyên Quang biên soạn 12 kịch bản thuyết minh điểm đến dựa trên huyền tích các danh thắng tự nhiên, đào tạo chuẩn hóa cho 100% hướng dẫn viên du lịch lòng hồ trong giai đoạn 2024 - 2026, biến mỗi câu chuyện cổ thành sản phẩm du lịch trải nghiệm độc đáo thu hút du khách.

  4. Khôi phục không gian diễn xướng dân gian tại cộng đồng: Phòng Văn hóa - Thông tin các huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Lâm Bình tổ chức định kỳ mỗi năm 1 cuộc thi kể chuyện dân gian Tày tại lễ hội Lồng Tông mùa xuân. Phấn đấu đến năm 2025 thành lập được ít nhất 20 câu lạc bộ văn hóa dân gian tại các trường học và nhà văn hóa thôn bản để truyền dạy nghệ thuật kể chuyện cho thế hệ trẻ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, giáo viên môn Ngữ văn và môn Lịch sử - Địa lý tại các trường THCS, THPT: Công trình cung cấp hệ thống văn bản đã được thẩm định khoa học và phương pháp phân tích thể loại chuẩn xác, giúp thầy cô dễ dàng xây dựng giáo án chuyên đề giáo dục địa phương cho học sinh lớp 6 và lớp 10 theo đúng chuẩn năng lực yêu cầu.

Thứ hai, sinh viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu văn hóa dân gian: Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên khảo giàu hàm lượng học thuật về thi pháp tự sự miền núi, cung cấp mô hình khảo sát thực địa và khung phân loại 4 tiểu loại truyện cổ tích để phát triển các đề tài nghiên cứu so sánh folklore khu vực Đông Bắc.

Thứ ba, chuyên viên thuyết minh, doanh nghiệp lữ hành và cán bộ quản lý du lịch: Cung cấp nguồn tư liệu thuyết minh sinh động về các danh lam thắng cảnh vùng hồ sinh thái Na Hang - Lâm Bình, giúp các đơn vị xây dựng tour du lịch văn hóa - lịch sử hấp dẫn gắn với huyền thoại bản địa.

Thứ tư, cán bộ phụ trách công tác văn hóa dân tộc tại các cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học và số liệu thực tiễn để hoạch định các chính sách bảo tồn văn hóa phi vật thể, triển khai hiệu quả Dự án 6 về bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt nổi bật nhất giữa truyện cổ tích dân tộc Tày Tuyên Quang và truyện cổ tích người Kinh là gì?
Truyện cổ tích Tày mang đậm dấu ấn không gian núi rừng với 50,0% tác phẩm thuộc thể loại cổ tích địa danh, vượt trội so với tỉ lệ ước tính khoảng 10% đến 15% trong truyện cổ tích người Kinh. Nhân vật chính không hướng đến con đường thi cử hay chốn quan trường mà luôn gắn bó mật thiết với lao động nương rẫy, đời sống nhà sàn và các tập tục săn bắn, đánh cá.

Tại sao truyện cổ tích địa danh lại chiếm tỷ lệ áp đảo tới một nửa số lượng khảo sát?
Người Tày Tuyên Quang cư trú lâu đời giữa địa hình thung lũng bao quanh bởi núi cao, sông sâu như sông Gâm, sông Năng. Việc sáng tạo ra 17 truyện cổ tích địa danh phản ánh nỗ lực giải mã thế giới tự nhiên, đồng thời gửi gắm niềm tự hào quê hương và bài học đạo lý vào các danh thắng cụ thể như núi Pác Tạ hay thác Tin Tốc.

Luận văn giải quyết vấn đề ranh giới thể loại mờ nhạt giữa cổ tích và truyền thuyết như thế nào?
Tác giả dựa trên tiêu chí niềm tin tiếp nhận của Chu Xuân Diên và cấu trúc cốt truyện. Dù mang tên gọi Sự tích và gắn với địa danh có thật, các tác phẩm vẫn được xếp vào cổ tích nếu cốt truyện giải quyết mâu thuẫn nhân sinh bằng yếu tố hư cấu nghệ thuật thay vì ghi nhận lịch sử như truyền thuyết.

Làm thế nào để đưa truyện cổ tích Tày vào giảng dạy hiệu quả theo Chương trình GDPT 2018?
Giáo viên nên tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực qua các hoạt động sắm vai, sân khấu hóa tác phẩm hoặc tổ chức dự án học tập tìm hiểu danh thắng địa phương qua truyện kể. Điển hình như bài học về Núi Pắc Tạ trong tài liệu giáo dục địa phương lớp 6 giúp học sinh vừa rèn luyện kỹ năng đọc hiểu vừa bồi dưỡng tình yêu quê hương.

Việc kết nối truyện cổ tích với du lịch Na Hang - Lâm Bình có khả thi trong thực tế không?
Hoàn toàn khả thi và đem lại hiệu quả kinh tế - văn hóa cao. Trong thực tế, các tuyến du lịch lòng hồ sinh thái Na Hang khi được lồng ghép lời kể về Sự tích Ao Trời, đèo Ái Au, núi Pác Tạ đã làm tăng mức độ hài lòng của du khách lên khoảng 20% đến 30%, biến cảnh quan tự nhiên thành những không gian văn hóa giàu cảm xúc.

Kết luận

  • Luận văn đã phân loại và giải mã hệ thống 34 truyện cổ tích dân tộc Tày trong tổng thể 103 truyện cổ tích Tuyên Quang, xác lập cơ sở dữ liệu khoa học chuẩn xác.
  • Khẳng định tính đa dạng với 4 tiểu loại độc đáo, trong đó truyện cổ tích địa danh chiếm vị trí thống trị với 50,0%, phản ánh sâu sắc mối quan hệ hữu cơ giữa con người với môi trường tự nhiên miền núi.
  • Làm sáng tỏ các giá trị nhân văn cốt lõi, triết lý sống thiện lương cùng hệ thống phong tục tập quán lâu đời như canh thi hài, hội Lồng Tông được bảo lưu nguyên vẹn qua ngôn từ nghệ thuật.
  • Đóng góp trực tiếp nguồn ngữ liệu chuẩn mực phục vụ biên soạn tài liệu giáo dục địa phương các cấp theo định hướng đổi mới căn bản của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành đồng bộ, mở ra hướng đi bền vững kết hợp giữa bảo tồn di sản văn học dân gian với phát triển du lịch sinh thái Na Hang - Lâm Bình.

Trong giai đoạn 2024 - 2026, các cơ quan văn hóa và giáo dục địa phương cần đẩy mạnh số hóa kho tàng truyện cổ, đưa vào giảng dạy đồng loạt tại 100% cơ sở giáo dục. Hãy cùng chung tay bảo tồn, lan tỏa và làm sống lại những giá trị nhân văn cao đẹp của truyện cổ tích dân tộc Tày, bồi đắp tâm hồn cho thế hệ trẻ và gìn giữ bản sắc văn hóa Việt Nam trường tồn.