Chương 1: Những vấn đề cơ bản về trưng cầu dân ý. Chương 2: Thực tiễn trưng cầu dân ý ở một số nước trên thế giới. Chương 3: Pháp luật và thực tiễn trưng cầu dân ý ở Việt Nam. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRƢNG CẦU DÂN Ý 1.
Khái niệm trƣng cầu dân ý Trưng cầu dân ý là một hình thức dân chủ trực tiếp, qua đó người dân bỏ phiếu quyết định (đồng ý hay không đồng ý) về những vấn đề của Nhà nước, thường là các vấn đề liên quan đến chính trị quan trọng của quốc gia như sửa đổi Hiến pháp, tham gia liên minh, quyết định các vấn đề lớn liên quan đến quyền làm chủ của người dân… Vì vậy, để làm rõ được bản chất của trưng cầu dân ý trước tiên chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm dân chủ trực tiếp. Dân chủ trực tiếp cùng với dân chủ gián tiếp là hai cơ chế chủ yếu để người dân thực hiện quyền lực của mình. Nếu như dân chủ gián tiếp là cơ chế mà người dân thực hiện quyền lực thông qua cơ quan đại diện do mình bầu ra thì dân chủ trực tiếp là cơ chế mà người dân được trực tiếp tham gia các công việc của nhà nước và cộng đồng, không thông qua bất kỳ một khâu trung gian nào. Dân chủ trực tiếp được hiểu theo các truyền thống đó là “sự thể hiện một cách trực tiếp ý chí của nhân dân về một vấn đề nào đó mà không cần thông qua một tổ chức hay các nhân nào thay mặt mình và ý chí đó có giá trị thi hành ngay”[19, tr.
Theo quan điểm hiện đại, “dân chủ trực tiếp là một phương thức làm chủ của nhân dân khi nhân dân- chủ thể của quyền lực- quyết định hoặc bày tỏ ý chí, nguyện vọng, đề đạt kiến nghị nào đó trong xây dựng nhà nước, trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời thực hiện kiểm tra, giám sát bộ máy nhà nước do chính mình lập nên”.16] Dân chủ trực tiếp xuất hiện đầu tiên ở nhà nước Aten cổ đại. Khi đó người ta thường tập hợp số lượng dân chúng tối đa khoảng 5000 đến 6000 người ở một địa điểm để cùng bàn bạc, thảo luận và trực tiếp đưa ra các quyết định về các vấn đề của đất nước. Đó chính là những hoạt động trưng cầu dân ý của người dân vào buổi sơ khai. Người ta còn tìm thấy các quy định về trưng cầu dân ý, quy định kết quả của các cuộc trưng cầu dân ý là bắt buộc đối với mọi vương quốc và mọi thần dân trong rất nhiều các Đạo luật cổ như: Đạo luật Valery và Horasy năm 449 TCN, đạo luật Publia năm 339 trước TCN và sau đó là đạo luật Hortensia năm 287 TCN.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Qua đó có thể thấy, trưng cầu dân ý là một phạm trù có tính lịch sử, xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của dân chủ, được sử dụng ngày càng phổ biến trong sinh hoạt chính trị, pháp lý của nhiều quốc gia. Tới nay, đã có 101 nước trên tổng số 190 nước có quy định về trưng cầu dân ý. - Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh tái bản lần thứ 13, Nguyễn Như Ý chủ biên thì Trưng cầu được hiểu là “đưa ra hỏi ý kiến của số đông một cách có tổ chức để thêm căn cứ khi đưa ra quyết định vấn đề gì”; Trưng cầu dân ý là “hỏi ý kiến nhân dân bằng cách tổ chức bỏ phiếu để nhân dân trực tiếp quyết định”.1682] - Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản từ điển Bách khoa phát hành thì Trưng cầu dân ý là “cuộc hỏi ý kiến của toàn thể dân chúng về một vấn đề chính trị hay pháp luật bằng cách tổ chức bỏ thăm” [20, tr.1116] Ở Việt Nam thuật ngữ trưng cầu dân ý tuy không phải mới mẻ, nhưng do ít được đề cập, bàn luận nên trên thực tế còn có những cách hiểu chưa thống nhất, thậm chí rất khác nhau. Chẳng hạn như gọi việc công bố dự thảo Hiến pháp hay một dự án luật để lấy ý kiến nhân dân là trưng cầu dân ý; nhầm tưởng việc điều tra xã hội học là trưng cầu dân ý…Vì vậy, để có được một cách hiểu chính xác nhất về trưng cầu dân ý, trước hết phải phân biệt trưng cầu dân ý với các thuật ngữ khác, như phúc quyết, lấy ý kiến nhân dân, bầu cử, điều tra xã hội học.
* Trưng cầu dân ý và phúc quyết toàn dân Phúc quyết toàn dân là việc Nhà nước đưa một vấn đề (văn bản pháp luật, quyết định hành chính…) đã được cơ quan nhà nước thông qua ra để nhân dân quyết định lại.Trong khi đó, trưng cầu dân ý là việc Nhà nước đưa một vấn đề quan trọng để nhân dân trực tiếp quyết định thông qua việc bỏ phiếu. Có thể thấy điểm khác biệt lớn nhất giữa phúc quyết và trưng cầu dân ý chính là đối tượng mà chế định này hướng tới, nếu như đối tượng của phúc quyết là những vấn đề đã được quyết định, nhưng sau nhận thấy cần phải đưa ra để nhân dân biểu quyết lại. Trong khi đó, đối tượng của trưng cầu dân ý là các vấn 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đềmà cơ quan nhà nước chưa có hướng giải quyết, và kết quả biểu quyết của nhân dân là quyết định cuối cùng. Đi sâu vào chi tiết hơn thì phạm vi phúc quyết có thể là những vấn đề quan trọng của quốc gia như Hiến pháp, văn bản pháp luật… cũng có thể chỉ là những vấn đề nhỏ ở trong một đơn vị hành chính sự nghiệp như việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với lãnh đạo, hay các quyết định mang tính chất nội bộ của cơ quan… Điều này cũng đồng nghĩa với việc chủ thể của quyền phúc quyết có thể là toàn dân, cũng có thể chỉ là một bộ phận nhỏ người dân trong một cơ quan, tổ chức.
Khác với phúc quyết, phạm vi của trưng cầu dân ý là những vấn đề quan trọng của quốc gia hay của địa phương, ví dụ như thông qua Hiến pháp mới, sửa đổi bổ sung Hiến pháp cũ, chia tách địa giới hành chính… những vấn đề này đều là những vấn đề quan trọng ảnh hưởng tới một bộ phận không nhỏ người dân, chính vì vậy chủ thể của trưng cầu dân ý rộng hơn rất nhiều so với phúc quyết. Pháp luật Việt Nam, thuật ngữ phúc quyết được sử dụng trong Hiến pháp năm 1946 ở các Điều 21 “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những điều liên quan tới vận mệnh quốc gia…”,Điều 32 “Những việc quan trọng đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viện đồng ý” và Điều 70 “Những điều thay đổi khi được Nghị viện ưng thuận thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”. Tuy nhiên nội hàm của các quy định này lại giống với trưng cầu dân ý, vì vậy tới bản Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 quyền này được đổi thành trưng cầu ý kiến nhân dân, tới bản Hiến pháp 1992 thì được gọi là trưng cầu ý dân. * Trưng cầu dân ý và lấy ý kiến nhân dân Trong Hiến pháp và pháp luật hiện hành của nước ta đã có những ghi nhận về việc trưng cầu dân ý và lấy ý kiến nhân dân.
Đây là hai hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước có mục đích, yêu cầu gần giống nhau nhưng cách thức tiến hành lại hoàn toàn khác nhau. Do vậy về mặt lý luận và hoạt động thực tế rất cần có sự phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa trưng cầu dân ý và lấy ý kiến nhân dân để đề ra và thực hiện mục đích, yêu cầu của mỗi hoạt động này được đúng đắn và tốt hơn. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trưng cầu dân ý là đưa một vấn đề quan trọng của đất nước ra cho toàn dân thảo luận và cử tri biểu quyết, quyết định theo đa số. Khi đã đưa một vấn đề nào đó ra trưng cầu dân ý thì các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đoàn thể chỉ có nhiệm vụ tổ chức thực hiện như là một bộ máy thư ký giúp việc cho cử tri và kiểm phiếu, công bố kết quả chứ không phải là cơ quan tổng hợp, tập hợp ý kiến của cử tri để nghiên cứu tiếp thu, giải trình, chỉnh lý, càng không có quyền bảo lưu ý kiến của mình.
Trong khi đó, lấy ý kiến nhân dân là việc Nhà nước tổ chức để nhân dân đóng góp, tham gia ý kiến của mình về một vấn đề cụ thể đưa ra lấy ý kiến. Những ý kiến đóng góp này chỉ được cơ quan hữu quan tổng hợp, nghiên cứu giải trình, tiếp thu khi chỉnh lý dự thảo để trình cơ quan có thẩm quyền xem xét. Có thể nhận thấy cả trưng cầu dân ý và lấy ý kiến nhân dân đều là hình thức dân chủ trực tiếp; xét về bản chất, trưng cầu dân ý là một trong những hình thức của lấy ý kiến nhân dân.Tuy nhiên, nội hàm của trưng cầu dân ý hẹp hơn so với nội hàm của lấy ý kiến nhân dân. Những việc đưa ra lấy ý kiến nhân dân có khi là để xem xét quyết định về một vấn đề cụ thể (như việc có nên xây dựng một công trình hay không) giống như trong trưng cầu dân ý nhưng cũng có thể là việc góp ý để hoàn chỉnh thêm các vấn đề đưa ra lấy ý kiến (như việc lấy ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh).
Điểm khác biệt cơ bản giữa lấy ý kiến nhân dân và trưng cầu dân ý là ở chỗ: - Thông qua trưng cầu dân ý người dân trực tiếp quyết định đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu; còn thông qua việc lấy ý kiến nhân dân, ý kiến của người dân chỉ mang tính chất tham khảo với cơ quan nhà nước, việc quyết định về vấn đề đưa ra lấy ý kiến như thế nào vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan nhà nước. - Đối tượng của việc lấy ý kiến nhân dân là tất cả những người có khả năng và tâm huyết đóng góp ý kiến, không hạn chế bất kỳ một trường hợp nào dù người ấy có quyền công dân hoặc quyền bầu cử hay không. Trong khi đó, đối tượng của trưng cầu dân ý chỉ gồm những người có quyền bầu cử. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.