Chương 1 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VỀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 1. Các ĐƯQT đa phương quy định về hoạt động TGPL Để tăng cường bảo vệ quyền con người, các quốc gia đều quan tâm đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền cùng với việc đặt tổ chức và hoạt động của công quyền trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Bên cạnh đó, quyền con người cũng gắn liền với các trào lưu tiến bộ xã hội của nhân loại để không ngừng mở rộng và nâng cao giá trị dân chủ, xác lập vị thế, vai trò quan trọng của các cá thể- con người, chủ thể của mọi hành vi trong xã hội. Pháp luật trở thành một trong các công cụ quan trọng của nhà nước pháp quyền điều chỉnh xã hội để bảo vệ quyền con người ở mỗi quốc gia.
Trong đó, pháp luật với công chúng, nhất là những bộ phận dân nghèo, yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội là một vấn đề mà các chế độ chính trị khác nhau ở tất cả các nước đều quan tâm nghiên cứu và giải quyết theo cách riêng sao cho hiệu quả, phù hợp với truyền thống pháp luật, điều kiện kinh tế-xã hội. Từ yêu cầu và trong xu thế hội nhập quốc tế, vấn đề bảo vệ quyền con người được ghi nhận trong nhiều ĐƯQT, mà ở đó TGPL được khẳng định như một quyền độc lập của con người, đồng thời là công cụ để bảo vệ các quyền công dân khác. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (được thông qua và tuyên bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948 của Đại hội đồng LHQ) đã trịnh trọng tuyên bố: …Tấ t cả mo ̣i người sinh ra đề u đươ ̣c tự do và biǹ h đẳ ng về nhân phẩ m và quyề n. Mọi con người đều được tạo hoá ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau tro ng tiǹ h bằ ng hữu … 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và … Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào…[21].
Ngày 20/12/2012, Đại hội đồng LHQ đã đưa ra tuyên bố về nguyên tắc và những hướng dẫn về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự, trong đó TGPL được thừa nhận: …Là một thành tố cơ bản của một hệ thống tư pháp hình sự dựa trên nguyên tắc pháp quyền, là cơ sở cho việc thụ hưởng các quyền khác, bao gồm quyền có phiên toà xét xử công bằng và là một sự bảo đảm quan trọng để bảo đảm sự công bằng cơ bản và niềm tin của công chúng đối với tiến bộ của hệ thống tư pháp hình sự… và Nhà nước cần bảo đảm quyền được TGPL trong hệ thống pháp luật quốc gia ở mức độ cao nhất có thể [27]. Đồng thời, Tuyên bố xác định rõ nguyên tắc TGPL dành cho các đối tượng cụ thể như: người bị tình nghi hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, nạn nhân của tội phạm, nhân chứng, trẻ em, phụ nữ và nhóm người có yêu cầu đặc biệt cùng sự bảo đảm, bảo vệ người thực hiện TGPL, thẩm quyền, trách nhiệm của họ trong quá trình thực thi công vụ. Từ những nguyên tắc, nội dung mang tính định hướng này sẽ góp phần hoàn thiện chính sách TGPL với tư cách một bộ phận quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống tư pháp hình sự ở các quốc gia, từ đó khẳng định, phát huy giá trị mạnh mẽ của TGPL cho các đối tượng trong quá trình tố tụng. Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 2200 (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng LHQ và có hiệu lực ngày 23/3/1976 (Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982) đã đặt ra quy định khi xét xử về một tội hình sự, mỗi người đều có quyền đòi hỏi một cách hoàn toàn bình đẳng việc 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự TGPL theo sự lựa chọn của mình, được thông báo về quyền này nếu chưa có sự TGPL và được nhận sự TGPL theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả.
Ngoài ra, Công ước này còn quy định về quyền giúp đỡ khi bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do; quyền bình đẳng trước Tòa án và cơ quan tài phán; quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật; thủ tục đặc biệt đối với người chưa thành niên; quyền được xem xét lại vụ việc, mức án tại Tòa án cao hơn; quyền được công nhận ở bất kỳ đâu là một con người trước pháp luật; quyền và cơ hội tiếp cận nói chung các dịch vụ công cộng ở đất nước mình; quyền của người dân tộc thiểu số; quyền suy đoán vô tội trước khi có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án [23]… Đây là những quyền cơ bản của con người trong hoạt động tố tụng, rộng hơn là ở đời sống xã hội liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến quyền TGPL. Công ước quốc tế về quyền trẻ em thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 44-25 ngày 20/11/1989 của Đại hội đồng LHQ và có hiệu lực từ ngày 2/9/1990 (Việt Nam phê chuẩn ngày 20/2/1990), theo điều 49 của Công ước thì trẻ em phải được đặc biệt trao cơ hội nói lên ý kiến của mình trong bất kỳ quá trình tố tụng tư pháp hoặc hành chính nào có liên quan đến trẻ, trực tiếp hoặc thông qua một người đại diện hay một cơ quan thích hợp, theo cách thức phù hợp với những quy tắc thủ tục trong pháp luật quốc gia và các quốc gia thành viên phải bảo đảm trẻ em bị tước tự do có quyền được nhanh chóng tiếp cận sự TGPL và những trợ giúp thích hợp khác, cũng như quyền được chất vấn tính chất hợp pháp của việc tước tự do đó trước một Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền, độc lập, vô tư khác và có quyền đòi hỏi một quyết định nhanh chóng liên quan đến bất kỳ hành động nào như vậy [24]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ được thông qua và để mở cho các nước ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết 34/180 ngày 18/12/1979 của Đại hội đồng LHQ và có hiệu lực từ ngày 3/9/1981 (Việt Nam phê chuẩn ngày 18/12/1982) đã quy định các quyền cơ bản của người phụ nữ được sự bảo vệ của luật pháp nhằm chống lại nạn phân biệt đối xử, bảo đảm bình đằng giới, trong đó cũng đề cập đến vấn đề TGPL. Công ước quốc tế về người khuyết tật được Đại Hội đồng LHQ thông qua ngày 13/12 /2006 (Việt Nam là thành viên thứ 118 tham gia ký Công ước vào ngày 22/10/2007) quy định các quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện những biện pháp phù hợp để tạo sự tiếp cận cho người khuyết tật đối với những hỗ trợ pháp lý mà họ cần khi thực hiện năng lực pháp lý và đảm bảo khả năng tiếp cận có hiệu quả đối với các dịch vụ tư pháp cho người khuyết tật [26].
Như vậy, các Tuyên bố, ĐƯQT đa phương mà Việt Nam là thành viên ký kết hoặc gia nhập đã quy định một cách trực tiếp hay gián tiếp quyền được TGPL nằm trong các quyền cơ bản của con người và là cơ sở để các quốc gia thành viên cụ thể hóa phù hợp trong các văn bản QPPL nước mình. Tuy nhiên, tổng hợp tính đến thời điểm hiện tại, nội dung các ĐƯQT đa phương quy định về TGPL mới chỉ điều chỉnh vấn đề theo cách chung, khái quát cho một số đối tượng nhất định và hiện chưa có văn bản quy định tập trung, thống nhất, đầy đủ về vấn đề này. Điều này gây ra khó khăn không nhỏ trong việc nghiên cứu, tìm hiểu, nắm vững các quy định về TGPL trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như việc pháp điển hóa vào pháp luật các quốc gia thành viên. Từ thực trạng trên, tác giả nhận thấy các tổ chức quốc tế, các quốc gia cần hợp tác nghiên cứu, xây dựng một ĐƯQT thống nhất điều chỉnh toàn diện, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đầy đủ về vấn đề này, tránh những mâu thuẫn, trồng chéo giữa các văn bản đã đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp vấn đề TGPL.
Nội dung của ĐƯQT chung cần xác định chính xác, hướng trọng tâm vào khái niệm TGPL, các đối tượng được TGPL, quyền và nghĩa vụ của họ, hình thức, lĩnh vực thực hiện, trình tự, thủ tục khi có yêu cầu và cách thức hợp tác quốc tế giữa các quốc gia về TGPL. Pháp luật nước ngoài về hoạt động TGPL 1. Khái quát sự hình thành và phát triển của TGPL trên thế giới Hình thành bắt đầu từ thành cổ A- then vào khoảng thế kỷ thứ X trước Công nguyên. Đến năm 224, Nhà nước Lã Mã ban hành đạo luật cấm những người biện hộ nhận tiền công.
Ở nước Anh, từ thế kỷ XV pháp luật Anh quốc đã có quy định: “cần dành cho người nghèo khổ sự giúp đỡ để họ được hưởng quyền lợi mà pháp luật ban cho”. Năm 1495, vua Henry VII trong một nghị án đã có quy định cụ thể hơn về vấn đề này: “Chính nghĩa cần được dành chung cho người nghèo để thực hiện quyền tự do họ được hưởng- điều đó là tự nhiên không gì thay thế”. Ở Châu Âu lục địa, TGPL có nguồn gốc từ quyền được tư vấn và xét xử công bằng của công dân trước pháp luật. Theo đó, người nghèo được miễn án phí, được cung cấp luật sư miễn phí khi không có đủ khả năng tài chính để chi trả thù lao thuê luật sư.
Những năm đầu thế kỷ XX, một số nước Châu Âu chưa coi TGPL là trách nhiệm của mình mà dựa vào hoạt động TGPL mang tính từ thiện của luật sư. Nhà nước sẽ chi trả một khoản thù lao nhất định cho luật sư khi thực hiện TGPL. Tuy nhiên, để hạn chế việc chi trả thù lao cho luật sư miễn phí trong các vụ việc tố tụng, một số nước đã quy định nghĩa vụ TGPL bắt buộc của luật sư trong các văn bản pháp luật.