phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính bao gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phƣơng pháp nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu. Chƣơng 2: Tri thức địa phƣơng trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 3: Tri thức địa phƣơng trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng. Chƣơng 4: Tri thức địa phƣơng trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên nƣớc.
Chƣơng 5: Tri thức địa phƣơng - Những vấn đề đặt ra trong bối cảnh phát triển bền vững 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu tri thức địa phƣơng 1. Tình hình nghiên cứu tri thức địa phương (TTĐP) trên thế giới Trong bối cảnh Thế giới hiện nay, khi vấn đề môi trƣờng và phát triển bền vững đƣợc đặt ra, những nhận thức về hệ tri thức địa phƣơng của các tộc ngƣời đƣợc quan tâm nghiên cứu nhƣ một nỗ lực cho một giải pháp hiệu quả cho vấn đề ô nhiễm môi trƣờng, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo sinh kế cho các cộng đồng cƣ dân. Tuy rằng vấn đề TTĐP đƣợc quan tâm nghiên cứu từ sớm, nhƣng do ảnh hƣởng của thuyết vị chủng tộc và thuyết giai tầng đã hình thành nên tƣ tƣởng bài trừ những tri thức địa phƣơng của các thuộc địa, coi đó là lạc hậu, ngu dốt, phi khoa học.
Hay nói cách khác, TTĐP của ngƣời dân lúc này bị “lề hóa” (R. Những thập niên đầu thế kỷ XX, nhằm khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thƣờng chiến tranh, các nƣớc phƣơng Tây tích cực thực hiện các dự án theo hình thức “Top - down” đối với cá nƣớc thuộc địa. Thực chất những dự án này thể hiện ý mốn chủ quan của các nƣớc thực dân, hoàn toàn lờ đi vai trò của cƣ dân chủ thể, chú trọng đến kết quả của các dự án hơn là nhu cầu của chính cộng đồng thụ hƣởng dự án (quan điểm etic). Từ đó, các mô hình kinh tế - xã hội vốn đƣợc nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm phƣơng Tây đƣợc mang đi áp dụng rộng rãi vào thực tiễn xã hội của các nƣớc thuộc thế giới thứ ba mà hoàn toàn phủ định vai trò nền tảng của những giá trị văn hóa, kiến thức về tự nhiên, xã hội của cƣ dân bản địa.
Điều đó tất yếu dẫn đến hậu quả là hàng loạt các dự án phát triển sau thế chiến thứ II của các nƣớc thực dân bị thất bại, mà theo nhiều nhà khoa học, những dự án đó là những “bài thơ hay” nhƣng lại là “khoa học dở”(R. Từ thực trạng đó, vấn đề “lề hóa tri thức địa phương”đã bắt đầu đƣợc đánh giá lại. Trƣớc sự bất lực của khoa học và công nghệ phƣơng Tây trong việc giải thích về thế giới tự nhiên, ngƣời ta phát hiện ra rằng, những cƣ dân bản địa với lối 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ứng xử văn hóa truyền thống là những ngƣời sống hài hòa, thân thiết với tự nhiên (R.Khoa học phƣơng Tây bắt đầu có sự nhìn nhận lại đối với hệ tri thức của những ngƣời dân bản địa. Hàng loạt các công trình cũng nhƣ các hội thảo đƣợc tổ chức để đƣa ra quan điểm nghiên cứu, nhìn nhận lại vai trò của tri thức địa phƣơng đối với sự phát triển của các tộc ngƣời.
Vào năm 1972 tại Stockholm (Thụy Điển) đã diễn ra một cuộc hội thảo của UNCTAD (Hội thảo Thƣơng mại và Phát triển) về môi trƣờng sống liên quan đến quyền con ngƣời và tính bền vững của môi trƣờng. Sự kết nối sau đó đƣợc công nhận bởi nhiều quốc gia, bao gồm cả những ngƣời trong OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế). Hội nghị này đã dẫn tới nhiều hiệp định môi trƣờng đa phƣơng nhƣ WHC (Hiệp ƣớc về di sản văn hóa và thiên nhiên của Thế giới) vào năm 1972 và CITES (Thƣơng mại quốc tế trong nguy cơ tuyệt chủng động và thực vật) năm 1973. Tất cả những hiệp định này đều liên quan tới quyền lợi và nghĩa vụ của ngƣời dân địa phƣơng nhƣ là những ngƣời góp phần cho sự phát triển bền vững (Sillitoe, P & Bicker, A, 2004, tr.
Vào đầu những năm 80, dƣới tác động của sự nóng lên của toàn cầu gây nên những tác động nghiêm trọng tới cuộc sống của con ngƣời nhƣ hiệu ứng nhà kính… dẫn tới hiện tƣợng thuật ngữ “bền vững” luôn đƣợc gắn liền với “phát triển”. Liên hiệp quốc đã thành lập WECD (Hiệp ƣớc về môi trƣờng và phát triển Thế giới - hiệp ƣớc Brundtland) nhằm tìm hiểu các vấn đề về môi trƣờng tại các nƣớc đang phát triển. Sự hoạt động này có liên quan tới ngƣời bản địa và trong báo cáo của Hiệp ƣớc này “Tương lai chung của chúng ta” (1987) nhấn mạnh tới giá trị của tri thức truyền thống, đƣợc nêu ra cho việc trao quyền cho cộng đồng địa phƣơng và bảo vệ quyền sử dụng đất và tài nguyên của họ(Sillitoe & Bicker, 2004, tr. Năm 1988, tại Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về sinh thái tộc ngƣời đƣợc tổ chức tại Belém (Brazil) đƣa ra bản tuyên bố Belém liên quan đến các tri thức truyền thống của tộc ngƣời.
Xuất phát từ thực tế “các khu rừng nhiệt đới và các hệ sinh thái mong manh khác đang dần biến mất, rất nhiều giống loài, cả động và thực vật đang bị đe dọa tuyệt chủng, các văn hóa bản địa trên toàn thế giới đang bị phá vỡ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và hủy hoại”, trên cơ sở nhận thức về mối liên hệ gắn kết giữa đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa, bản tuyên bố Belém đãđƣa ra hàng loạt những khuyến cáo trong hành động đối với vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế … cho các tộc ngƣời trên cơ sở tôn trọng kinh nghiệm truyền thống ở các địa phƣơng. Từ đóđƣa ra chiến lƣợc bảo tồn các giá trị văn hóa địa phƣơng(M. Tại Hội thảo của LHQ về môi trƣờng và phát triển (UNCED) năm 1992 tại Rio, hay còn đƣợc gọi là Hội nghị thƣợng đỉnh Trái Đất (Noejovich 2001), cộng đồng quốc tế tiếp tục thừa nhận rằng ngƣời bản địa đóng 1 vai trò quan trọng trong chiến lƣợc phát triển bền vững. Năm 1996, Hội nghị Bellagio về sở hữu trí tuệ cũng đƣa ra bản tuyên bố, trong đó khẳng định sẽ xem xét những chế độ “đặc biệt” cho việc “bảo vệ các sản phẩm dân gian, bảo vệ các sản phẩm của di sản văn hóa, “bí quyết”để bảo vệ tri thức (Know - how) về sinh học và sinh thái của các dân tộc truyền thống” (R.
Vấn đề tri thức tộc ngƣời đãđƣợc xem xét ở một mức độ cao hơn và chính thức đƣợc luật pháp quốc tế bảo trợ. Vấn đề TTĐP cũng nhận đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học ở cả lĩnh vực tự nhiên lẫn xã hội. Các nghiên cứu khoa học dƣờng nhƣ cố gắng ở mức độ cao nhất trong việc tôn trọng diễn ngôn từ phía cộng đồng, thậm chí đƣợc coi nhƣ nguyên tắc cơ bản trong nghiên cứu điền dã xã hội học và dân tộc học (C. Có thể nói, từ sau những năm 60 trở lại đây, TTĐP trở thành một đề tài nghiên cứu hấp dẫn đối với các nhà khoa học phƣơng Tây với hàng loạt những công trình cùng quan điểm nghiên cứu khác nhau.
Về mặt thuật ngữ TTĐP có những quan điểm khác nhau.Haris coi TTĐP là một bộ phận trong tri thức bản địa (R.Osseweijer lại cho rằng TTĐP bao gồm tri thức bản địa và những tri thức ngoại sinh (M. Theo quan điểm của Geertz, “địa phương không chỉ liên quan đến địa điểm, thời gian, loại và một loạt vấn đề khác mà còn liên quan đến nhiều mô tả theo ngôn ngữ địa phương về cái xảy ra liên quan đến những tưởng tượng về cái có thể xảy ra”(M. Từ đây đã mở rộng phạm vi 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của khái niệm TTĐP ra ngoài khuôn khổ những lĩnh vực thông thƣờng của đời sống mà nó còn bao gồm cả những diễn ngôn của cƣ dân địa phƣơng với những vấn đề có thể xảy ra (theo quan điểm của họ). Cũng xuất phát từ việc đề cao vai trò của cộng đồng trong nghiên cứu Nhân học, C.Culas đƣa ra quan điểm nghiên cứu về TTĐP trên cơ sở tôn trọng tiếng nói của cộng đồng.
Từ đóđặt ra yêu cầu về mặt phƣơng pháp luận đối với các nhà nghiên cứu phải có kỹ thuật quan sát tham dự tốt, có một thời gian nghiên cứu thực địa đủ dài để có thể hiểu về giá trị văn hóa truyền thống cũng nhƣ những tri thức của tộc ngƣời trong thế ứng xử, khai thác môi trƣờng tự nhiên. Thực tiễn từ các dự án phát triển cộng đồng cũng nhƣ của nền khoa học Việt Nam đặt ra yêu cầu các nhà khoa học nên là những nhà nghiên cứu phát triển hơn là nghiên cứu ứng dụng (vốn là một loại hình nghiên cứu phổ biến ở Việt Nam hiện nay nhƣng lại ít đƣợc thừa nhận) (C. Theo quan điểm của Pamela McElwee, tri thức bản địa chính là những kiến thức của cộng đồng đối với hệ động thực vật không chỉ ở mặt diễn ngôn mà nó nằm ở cả trong đời sống tâm linh của tộc ngƣời (nhƣ tôn giáo, tín ngƣỡng, các thực hành nghi lễ…). Tác giả quan tâm đến những giá trị tinh thần nhƣ là một cơ chế hữu hiệu để bảo tồn tự nhiên.
Vai trò của những tri thức truyền thống của cộng đồng cƣ dân là vô cùng quan trọng để giải quyết những vấn đề liên quan đến nguồn lợi từ tự nhiên (PMcElwee,2010, tr. Tựu chung lại, từ những năm 60, 70 thế kỷ XX đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về TTĐP thuộc về hai quan điểm nghiên cứu sau: Quan điểm thứ nhất: coi TTĐP nhƣ là một nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái của môi trƣờng, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Luận điểm này đƣợc thể hiện trong nghiên cứu về ngƣời Aru của M.Osseweijer đãđƣa ra kết luận chính những tri thức ngoại nhập là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái môi trƣờng của ngƣời bản địa. Quan điểm thứ hai: coi TTĐP là cách tiếp cận hữu hiệu trong việc giải quyết những vấn đề suy giảm môi trƣờng sinh thái ở các cộng đồng dân cƣ.
TTĐP đƣợc 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.