Luận án tiến sĩ tri thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của người tày ở huyện ba bể tỉnh bắc kạn

Luận án tiến sĩ phân tích tri thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của người tày ở huyện ba, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Dân tộc học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

237
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu tri thức địa phương

1.2. Tình hình nghiên cứu tri thức địa phương trên thế giới

1.3. Nghiên cứu tri thức địa phương ở Việt Nam

1.4. Nghiên cứu về tri thức địa phương của người Tày

1.5. Lý thuyết về sinh thái học nhân văn trong nghiên cứu về tri thức địa phương

1.6. Lý thuyết về biến đổi và thích ứng văn hóa

1.7. Phương pháp nghiên cứu

1.8. Khái quát về tộc người và địa bàn nghiên cứu

1.9. Khái quát về người Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

1.10. Khái quát về các điểm nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN ĐẤT

2.1. Nhận thức của người Tày Ba Bể về các loại đất

2.2. Tri thức địa phương trong sử dụng tài nguyên đất

2.3. Tri thức địa phương trong sử dụng đất ruộng nước (nà)

2.4. Tri thức địa phương trong sử dụng đất nương

2.5. Tri thức địa phương trong sử dụng đất làm nhà

2.6. Tri thức địa phương trong sử dụng đất vườn

2.7. Tri thức địa phương trong việc bảo vệ đất

2.8. Những thực hành trong bảo vệ tài nguyên đất

2.9. Những hình thức tín ngưỡng liên quan đến đất và một số kiêng cữ

2.10. Những biến đổi của tri thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên đất

3. CHƯƠNG 3: TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG

3.1. Nhận thức của cộng đồng về vai trò của rừng

3.2. Tri thức địa phương trong sử dụng nguồn tài nguyên rừng

3.3. Đối tượng khai thác

3.4. Tri thức địa phương trong sử dụng gỗ và các loại phi gỗ

3.5. Tri thức địa phương trong sử dụng các loại dược liệu

3.6. Tri thức địa phương trong sử dụng các loài thú rừng và côn trùng

3.7. Tri thức địa phương trong bảo vệ tài nguyên rừng

3.8. Tri thức địa phương trong bảo vệ rừng thông qua những hành vi thực tế

3.9. Tín ngưỡng liên quan đến vấn đề bảo vệ rừng

3.10. Những biến đổi của tri thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng hiện nay

4. CHƯƠNG 4: TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC

4.1. Nhận thức của người Tày về tài nguyên nước

4.2. Tri thức địa phương trong sử dụng nguồn tài nguyên nước

4.3. Tri thức địa phương về dự báo liên quan đến nguồn nước

4.4. Các nguồn nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt

4.5. Các phương thức dẫn nước

4.6. Tri thức địa phương trong khai thác và sử dụng các nguồn thủy sản của hồ Ba Bể

4.7. Tri thức địa phương trong bảo vệ nguồn nước

4.8. Trong thực hành thường nhật

4.9. Các hình thức tín ngưỡng liên quan đến tài nguyên nước

4.10. Những biến đổi của tri thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên nước hiện nay

5. CHƯƠNG 5: TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

5.1. Mối quan hệ giữa các yếu tố đất - nước - rừng trong hệ tri thức địa phương của người Tày Ba Bể

5.2. Những yếu tố tác động đến tri thức địa phương của người Tày ở Ba Bể

5.3. Chủ trương thành lập Vườn Quốc gia Ba Bể - Sự đứt gãy về tri thức địa phương

5.4. Nhu cầu từ cộng đồng - nguyên nhân nội tại

5.5. Vai trò của chính sách và dự án trong sự phát triển bền vững của người Tày Ba Bể giai đoạn hiện nay

5.6. Những chương trình, dự án trong nước

5.7. Những chương trình, dự án nước ngoài

5.8. Một số kiến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan cách nhận biết tri thức địa phương người Tày Ba Bể

Tri thức địa phương của người Tày Ba Bể là hệ thống kinh nghiệm, hiểu biết truyền thống được tích lũy qua nhiều thế hệ, đặc biệt trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Người Tày Ba Bể có sự phân loại rõ ràng về các loại đất, rừng, nước dựa trên quan sát thực tế và kinh nghiệm sản xuất lâu đời. Họ coi trọng đất không chỉ như tư liệu sản xuất mà còn mang ý nghĩa tâm linh và xã hội. Tri thức này được truyền miệng và thực hành trong đời sống hàng ngày, tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng của cộng đồng. Việc nghiên cứu tổng quan về tri thức địa phương giúp hiểu rõ hơn về cách thức ứng xử hài hòa với môi trường tự nhiên, đồng thời nhận diện những thách thức và biến đổi do tác động của chính sách bảo vệ tài nguyên hiện đại.

1.1. Nhận thức về tri thức bản địa trong quản lý tài nguyên đất

Việc phân loại đất dựa trên kinh nghiệm truyền thống không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn góp phần bảo vệ tài nguyên đất, hạn chế khai thác quá mức và suy thoái đất. Đây là minh chứng cho giá trị của tri thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên.

1.2. Vai trò văn hóa người Tày Ba Bể trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Giá trị văn hóa trong bảo vệ thiên nhiên thể hiện sự hòa hợp giữa con người và môi trường, góp phần duy trì đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái tại khu vực Ba Bể.

II. Thách thức và biến đổi tri thức địa phương trong bảo vệ tài nguyên Ba Bể

Sự thành lập Vườn quốc gia Ba Bể từ năm 1992 đã tạo ra những thay đổi sâu sắc trong cách thức sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của người Tày. Chính sách đóng cửa rừng và hạn chế khai thác tự do đã làm thay đổi sinh kế truyền thống, gây ra sự đứt gãy trong hệ thống tri thức địa phương. Đồng thời, sự phát triển kinh tế thị trường và các dự án phát triển cũng tác động đến các giá trị văn hóa và thực hành bảo vệ môi trường của cộng đồng. Những thách thức này đòi hỏi phải có sự điều chỉnh và thích ứng của tri thức địa phương để phù hợp với bối cảnh mới.

2.1. Tác động của chính sách đóng cửa rừng đến tri thức bản địa

Sự thay đổi này đặt ra yêu cầu cần có các giải pháp hỗ trợ cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy tri thức bản địa phù hợp với chính sách bảo vệ tài nguyên hiện đại.

2.2. Biến đổi văn hóa và thích ứng tri thức địa phương trong bối cảnh phát triển

Khả năng thích ứng và sáng tạo của cộng đồng là yếu tố then chốt để bảo tồn tri thức địa phương và phát huy giá trị văn hóa trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

III. Phương pháp truyền thống bảo vệ tài nguyên thiên nhiên người Tày Ba Bể

Người Tày Ba Bể sử dụng nhiều phương pháp truyền thống trong quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, dựa trên tri thức bản địa và các quy ước xã hội. Các phương pháp này bao gồm việc phân vùng sử dụng đất, quy định khai thác rừng theo mùa vụ, áp dụng các hình thức tín ngưỡng và luật tục nhằm hạn chế khai thác quá mức. Những thực hành này không chỉ bảo vệ tài nguyên mà còn duy trì sự cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học trong khu vực. Việc nghiên cứu và phát huy các phương pháp truyền thống là cơ sở để xây dựng các chính sách bảo vệ môi trường phù hợp với đặc thù địa phương.

3.1. Quản lý rừng cộng đồng dựa trên tri thức bản địa

Quản lý rừng cộng đồng là minh chứng cho hiệu quả của phương pháp truyền thống trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

3.2. Tín ngưỡng và phong tục tập quán trong bảo vệ môi trường

Những giá trị văn hóa này góp phần tạo nên hệ thống bảo vệ tài nguyên thiên nhiên bền vững, gắn kết cộng đồng với môi trường sống.

IV. Ứng dụng tri thức địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học Ba Bể

Tri thức địa phương của người Tày Ba Bể đã và đang được ứng dụng trong các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Ba Bể. Việc kết hợp tri thức truyền thống với khoa học hiện đại giúp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm và duy trì hệ sinh thái rừng đặc dụng. Các dự án phát triển bền vững cũng chú trọng đến việc phát huy vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường, đồng thời cải thiện sinh kế cho người dân địa phương. Đây là hướng đi thiết thực nhằm bảo tồn tài nguyên thiên nhiên gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội.

4.1. Kinh nghiệm bảo tồn đa dạng sinh học từ tri thức bản địa

Kinh nghiệm bản địa là nguồn lực quan trọng hỗ trợ các chiến lược bảo tồn hiện đại.

4.2. Vai trò cộng đồng trong quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Cộng đồng là chủ thể quan trọng trong việc duy trì và phát triển tri thức địa phương phục vụ bảo vệ thiên nhiên.

V. Hướng dẫn phát huy tri thức địa phương trong phát triển bền vững Ba Bể

Phát huy tri thức địa phương trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững tại Ba Bể đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Cần xây dựng các chính sách hỗ trợ bảo tồn văn hóa và môi trường, đồng thời tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên. Việc đào tạo, truyền thông nâng cao nhận thức và phát triển các mô hình sinh kế bền vững dựa trên tri thức bản địa sẽ góp phần giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Đây là hướng đi chiến lược nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xã hội bền vững cho vùng Ba Bể.

5.1. Phương pháp kết hợp tri thức truyền thống và khoa học hiện đại

Phương pháp kết hợp là chìa khóa để phát huy tối đa giá trị của tri thức địa phương trong bối cảnh hiện đại.

5.2. Kiến nghị chính sách hỗ trợ bảo tồn và phát triển cộng đồng

Chính sách phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng phát huy vai trò chủ thể trong bảo vệ và phát triển bền vững.

VI. Kết luận và triển vọng phát triển tri thức địa phương người Tày Ba Bể

Tri thức địa phương của người Tày Ba Bể là tài sản quý giá trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững. Mặc dù chịu nhiều tác động từ chính sách và biến đổi xã hội, tri thức này vẫn giữ vai trò quan trọng trong quản lý đất, rừng và nước. Việc bảo tồn và phát huy tri thức địa phương cần được coi là ưu tiên trong các chiến lược phát triển vùng. Triển vọng phát triển bao gồm việc kết hợp tri thức truyền thống với khoa học hiện đại, tăng cường vai trò cộng đồng và xây dựng chính sách hỗ trợ phù hợp. Đây là con đường bền vững để bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống người dân Ba Bể trong tương lai.

6.1. Tầm quan trọng của tri thức địa phương trong bảo vệ môi trường

Tầm quan trọng của tri thức địa phương cần được nâng cao nhận thức và bảo vệ trong bối cảnh hiện đại.

6.2. Triển vọng phát triển bền vững dựa trên tri thức bản địa

Phát triển bền vững dựa trên tri thức bản địa là hướng đi chiến lược cho sự phát triển lâu dài của vùng.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính bao gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phƣơng pháp nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu. Chƣơng 2: Tri thức địa phƣơng trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 3: Tri thức địa phƣơng trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng. Chƣơng 4: Tri thức địa phƣơng trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên nƣớc.

Chƣơng 5: Tri thức địa phƣơng - Những vấn đề đặt ra trong bối cảnh phát triển bền vững 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu tri thức địa phƣơng 1. Tình hình nghiên cứu tri thức địa phương (TTĐP) trên thế giới Trong bối cảnh Thế giới hiện nay, khi vấn đề môi trƣờng và phát triển bền vững đƣợc đặt ra, những nhận thức về hệ tri thức địa phƣơng của các tộc ngƣời đƣợc quan tâm nghiên cứu nhƣ một nỗ lực cho một giải pháp hiệu quả cho vấn đề ô nhiễm môi trƣờng, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo sinh kế cho các cộng đồng cƣ dân. Tuy rằng vấn đề TTĐP đƣợc quan tâm nghiên cứu từ sớm, nhƣng do ảnh hƣởng của thuyết vị chủng tộc và thuyết giai tầng đã hình thành nên tƣ tƣởng bài trừ những tri thức địa phƣơng của các thuộc địa, coi đó là lạc hậu, ngu dốt, phi khoa học.

Hay nói cách khác, TTĐP của ngƣời dân lúc này bị “lề hóa” (R. Những thập niên đầu thế kỷ XX, nhằm khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thƣờng chiến tranh, các nƣớc phƣơng Tây tích cực thực hiện các dự án theo hình thức “Top - down” đối với cá nƣớc thuộc địa. Thực chất những dự án này thể hiện ý mốn chủ quan của các nƣớc thực dân, hoàn toàn lờ đi vai trò của cƣ dân chủ thể, chú trọng đến kết quả của các dự án hơn là nhu cầu của chính cộng đồng thụ hƣởng dự án (quan điểm etic). Từ đó, các mô hình kinh tế - xã hội vốn đƣợc nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm phƣơng Tây đƣợc mang đi áp dụng rộng rãi vào thực tiễn xã hội của các nƣớc thuộc thế giới thứ ba mà hoàn toàn phủ định vai trò nền tảng của những giá trị văn hóa, kiến thức về tự nhiên, xã hội của cƣ dân bản địa.

Điều đó tất yếu dẫn đến hậu quả là hàng loạt các dự án phát triển sau thế chiến thứ II của các nƣớc thực dân bị thất bại, mà theo nhiều nhà khoa học, những dự án đó là những “bài thơ hay” nhƣng lại là “khoa học dở”(R. Từ thực trạng đó, vấn đề “lề hóa tri thức địa phương”đã bắt đầu đƣợc đánh giá lại. Trƣớc sự bất lực của khoa học và công nghệ phƣơng Tây trong việc giải thích về thế giới tự nhiên, ngƣời ta phát hiện ra rằng, những cƣ dân bản địa với lối 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ứng xử văn hóa truyền thống là những ngƣời sống hài hòa, thân thiết với tự nhiên (R.Khoa học phƣơng Tây bắt đầu có sự nhìn nhận lại đối với hệ tri thức của những ngƣời dân bản địa. Hàng loạt các công trình cũng nhƣ các hội thảo đƣợc tổ chức để đƣa ra quan điểm nghiên cứu, nhìn nhận lại vai trò của tri thức địa phƣơng đối với sự phát triển của các tộc ngƣời.

Vào năm 1972 tại Stockholm (Thụy Điển) đã diễn ra một cuộc hội thảo của UNCTAD (Hội thảo Thƣơng mại và Phát triển) về môi trƣờng sống liên quan đến quyền con ngƣời và tính bền vững của môi trƣờng. Sự kết nối sau đó đƣợc công nhận bởi nhiều quốc gia, bao gồm cả những ngƣời trong OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế). Hội nghị này đã dẫn tới nhiều hiệp định môi trƣờng đa phƣơng nhƣ WHC (Hiệp ƣớc về di sản văn hóa và thiên nhiên của Thế giới) vào năm 1972 và CITES (Thƣơng mại quốc tế trong nguy cơ tuyệt chủng động và thực vật) năm 1973. Tất cả những hiệp định này đều liên quan tới quyền lợi và nghĩa vụ của ngƣời dân địa phƣơng nhƣ là những ngƣời góp phần cho sự phát triển bền vững (Sillitoe, P & Bicker, A, 2004, tr.

Vào đầu những năm 80, dƣới tác động của sự nóng lên của toàn cầu gây nên những tác động nghiêm trọng tới cuộc sống của con ngƣời nhƣ hiệu ứng nhà kính… dẫn tới hiện tƣợng thuật ngữ “bền vững” luôn đƣợc gắn liền với “phát triển”. Liên hiệp quốc đã thành lập WECD (Hiệp ƣớc về môi trƣờng và phát triển Thế giới - hiệp ƣớc Brundtland) nhằm tìm hiểu các vấn đề về môi trƣờng tại các nƣớc đang phát triển. Sự hoạt động này có liên quan tới ngƣời bản địa và trong báo cáo của Hiệp ƣớc này “Tương lai chung của chúng ta” (1987) nhấn mạnh tới giá trị của tri thức truyền thống, đƣợc nêu ra cho việc trao quyền cho cộng đồng địa phƣơng và bảo vệ quyền sử dụng đất và tài nguyên của họ(Sillitoe & Bicker, 2004, tr. Năm 1988, tại Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về sinh thái tộc ngƣời đƣợc tổ chức tại Belém (Brazil) đƣa ra bản tuyên bố Belém liên quan đến các tri thức truyền thống của tộc ngƣời.

Xuất phát từ thực tế “các khu rừng nhiệt đới và các hệ sinh thái mong manh khác đang dần biến mất, rất nhiều giống loài, cả động và thực vật đang bị đe dọa tuyệt chủng, các văn hóa bản địa trên toàn thế giới đang bị phá vỡ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và hủy hoại”, trên cơ sở nhận thức về mối liên hệ gắn kết giữa đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa, bản tuyên bố Belém đãđƣa ra hàng loạt những khuyến cáo trong hành động đối với vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế … cho các tộc ngƣời trên cơ sở tôn trọng kinh nghiệm truyền thống ở các địa phƣơng. Từ đóđƣa ra chiến lƣợc bảo tồn các giá trị văn hóa địa phƣơng(M. Tại Hội thảo của LHQ về môi trƣờng và phát triển (UNCED) năm 1992 tại Rio, hay còn đƣợc gọi là Hội nghị thƣợng đỉnh Trái Đất (Noejovich 2001), cộng đồng quốc tế tiếp tục thừa nhận rằng ngƣời bản địa đóng 1 vai trò quan trọng trong chiến lƣợc phát triển bền vững. Năm 1996, Hội nghị Bellagio về sở hữu trí tuệ cũng đƣa ra bản tuyên bố, trong đó khẳng định sẽ xem xét những chế độ “đặc biệt” cho việc “bảo vệ các sản phẩm dân gian, bảo vệ các sản phẩm của di sản văn hóa, “bí quyết”để bảo vệ tri thức (Know - how) về sinh học và sinh thái của các dân tộc truyền thống” (R.

Vấn đề tri thức tộc ngƣời đãđƣợc xem xét ở một mức độ cao hơn và chính thức đƣợc luật pháp quốc tế bảo trợ. Vấn đề TTĐP cũng nhận đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học ở cả lĩnh vực tự nhiên lẫn xã hội. Các nghiên cứu khoa học dƣờng nhƣ cố gắng ở mức độ cao nhất trong việc tôn trọng diễn ngôn từ phía cộng đồng, thậm chí đƣợc coi nhƣ nguyên tắc cơ bản trong nghiên cứu điền dã xã hội học và dân tộc học (C. Có thể nói, từ sau những năm 60 trở lại đây, TTĐP trở thành một đề tài nghiên cứu hấp dẫn đối với các nhà khoa học phƣơng Tây với hàng loạt những công trình cùng quan điểm nghiên cứu khác nhau.

Về mặt thuật ngữ TTĐP có những quan điểm khác nhau.Haris coi TTĐP là một bộ phận trong tri thức bản địa (R.Osseweijer lại cho rằng TTĐP bao gồm tri thức bản địa và những tri thức ngoại sinh (M. Theo quan điểm của Geertz, “địa phương không chỉ liên quan đến địa điểm, thời gian, loại và một loạt vấn đề khác mà còn liên quan đến nhiều mô tả theo ngôn ngữ địa phương về cái xảy ra liên quan đến những tưởng tượng về cái có thể xảy ra”(M. Từ đây đã mở rộng phạm vi 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của khái niệm TTĐP ra ngoài khuôn khổ những lĩnh vực thông thƣờng của đời sống mà nó còn bao gồm cả những diễn ngôn của cƣ dân địa phƣơng với những vấn đề có thể xảy ra (theo quan điểm của họ). Cũng xuất phát từ việc đề cao vai trò của cộng đồng trong nghiên cứu Nhân học, C.Culas đƣa ra quan điểm nghiên cứu về TTĐP trên cơ sở tôn trọng tiếng nói của cộng đồng.

Từ đóđặt ra yêu cầu về mặt phƣơng pháp luận đối với các nhà nghiên cứu phải có kỹ thuật quan sát tham dự tốt, có một thời gian nghiên cứu thực địa đủ dài để có thể hiểu về giá trị văn hóa truyền thống cũng nhƣ những tri thức của tộc ngƣời trong thế ứng xử, khai thác môi trƣờng tự nhiên. Thực tiễn từ các dự án phát triển cộng đồng cũng nhƣ của nền khoa học Việt Nam đặt ra yêu cầu các nhà khoa học nên là những nhà nghiên cứu phát triển hơn là nghiên cứu ứng dụng (vốn là một loại hình nghiên cứu phổ biến ở Việt Nam hiện nay nhƣng lại ít đƣợc thừa nhận) (C. Theo quan điểm của Pamela McElwee, tri thức bản địa chính là những kiến thức của cộng đồng đối với hệ động thực vật không chỉ ở mặt diễn ngôn mà nó nằm ở cả trong đời sống tâm linh của tộc ngƣời (nhƣ tôn giáo, tín ngƣỡng, các thực hành nghi lễ…). Tác giả quan tâm đến những giá trị tinh thần nhƣ là một cơ chế hữu hiệu để bảo tồn tự nhiên.

Vai trò của những tri thức truyền thống của cộng đồng cƣ dân là vô cùng quan trọng để giải quyết những vấn đề liên quan đến nguồn lợi từ tự nhiên (PMcElwee,2010, tr. Tựu chung lại, từ những năm 60, 70 thế kỷ XX đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về TTĐP thuộc về hai quan điểm nghiên cứu sau: Quan điểm thứ nhất: coi TTĐP nhƣ là một nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái của môi trƣờng, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Luận điểm này đƣợc thể hiện trong nghiên cứu về ngƣời Aru của M.Osseweijer đãđƣa ra kết luận chính những tri thức ngoại nhập là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái môi trƣờng của ngƣời bản địa. Quan điểm thứ hai: coi TTĐP là cách tiếp cận hữu hiệu trong việc giải quyết những vấn đề suy giảm môi trƣờng sinh thái ở các cộng đồng dân cƣ.

TTĐP đƣợc 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ