Luận văn tốt nghiệp: Khổng tử, chữ tín trong hợp tác Việt Nam-ASEAN (ĐH Mở)

Nghiên cứu ảnh hưởng của triết lý Khổng Tử và vai trò chữ tín trong hợp tác đa phương Việt Nam - ASEAN. Phân tích sâu sắc các mối quan hệ ngoại giao.

Chuyên ngành

Văn hóa Đông Nam Á

Tác giả

Nguyễn Thị Tâm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

1996

91
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan triết lý Khổng tử và chữ tín trong hợp tác Việt Nam ASEAN

Triết lý Khổng tử là hệ thống tư tưởng đạo đức có ảnh hưởng sâu rộng đến các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Chữ tín, một trong năm đức tính cốt lõi của Nho giáo (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín), được xem là nền tảng xây dựng quan hệ hợp tác bền vững. Khi Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995, chữ tín trở thành yếu tố then chốt trong quá trình hội nhập khu vực. ASEAN là tổ chức đa phương bao gồm nhiều quốc gia đa dạng về văn hóa, tôn giáo và thể chế chính trị. Sự tin cậy lẫn nhau là điều kiện tiên quyết để duy trì hòa bình, ổn định và phát triển. Triết lý Khổng tử, khi du nhập vào Việt Nam, đã trải qua quá trình bản địa hóa sâu sắc. Khái niệm trung hiếu, tín nghĩa được điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và văn hóa Việt Nam. Giá trị chữ tín không chỉ dừng ở quan hệ cá nhân mà mở rộng thành nguyên tắc ứng xử quốc gia trong quan hệ đa phương khu vực.

1.1. Nguồn gốc triết lý Khổng tử và hành trình vào Đông Nam Á

Triết lý Khổng tử khởi nguồn từ Trung Quốc thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, do Khổng Tử sáng lập. Hệ thống tư tưởng này nhấn mạnh năm đức tính cốt lõi: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Từ Trung Quốc, Nho giáo lan tỏa sang các nước Đông Nam Á qua con đường thương mại, ngoại giao và di dân. Tại mỗi quốc gia, triết lý Khổng tử bị khúc xạ bởi môi trường văn hóa bản địa, tạo nên những biến thể riêng biệt. Ở Việt Nam, Nho giáo tiếp nhận qua bốn độ khúc xạ: Tổ quốc, làng xã, gia đình và con người. Quá trình bản địa hóa này khiến Nho giáo Việt Nam mang sắc thái khác biệt so với Nho giáo Trung Quốc.

1.2. Vị trí chữ tín trong hệ thống giá trị Nho giáo

Chữ tín đứng trong ngũ thường của Nho giáo alongside nhân, lễ, nghĩa, trí. Tín nghĩa là sự giữ lời hứa, trung thực và đáng tin cậy trong mọi mối quan hệ. Khổng Tử coi chữ tín là nền tảng của mọi mối quan hệ xã hội, từ quan hệ cá nhân đến quan hệ chính trị. Ông dạy rằng người không có chữ tín thì không thể đứng vững trong xã hội. Trong bối cảnh quan hệ quốc tế hiện đại, chữ tín được mở rộng thành cam kết quốc gia, sự nhất quán trong chính sách đối ngoại và khả năng thực hiện các thỏa thuận đa phương.

II. Phân tích vai trò chữ tín trong hợp tác đa phương Việt Nam ASEAN

Chữ tín đóng vai trò quyết định trong hợp tác đa phương Việt Nam-ASEAN trên nhiều phương diện. Về chính trị, sự tin cậy lẫn nhau là điều kiện tiên quyết để giải quyết tranh chấp lãnh thổ, biển đảo một cách hòa bình. Khu vực Đông Nam Á đang đối mặt với nhiều thách thức an ninh phi truyền thống như khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu. Không quốc gia nào có thể đơn phương giải quyết các vấn đề này. Hợp tác dựa trên chữ tín giúp các nước ASEAN xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả. Về kinh tế, chữ tín tạo môi trường đầu tư minh bạch, thu hút nguồn vốn nước ngoài và thúc đẩy thương mại nội khối. Cộng đồng Kinh tế ASEAN chỉ có thể thành công khi các bên thực hiện cam kết một cách nghiêm túc. Các nhà phân tích quốc tế nhận định ASEAN là khu vực hòa bình nhưng nóng, nghĩa là nguy cơ xung đột luôn tiềm ẩn. Chỉ cần một quốc gia bội tín, nguy cơ chiến tranh có thể bùng phát ngay lập tức.

2.1. Thách thức trong việc duy trì chữ tín giữa các quốc gia ASEAN

ASEAN bao gồm mười quốc gia đa dạng về thể chế chính trị, trình độ phát triển và lợi ích chiến lược. Sự đa dạng này tạo ra nhiều thách thức trong việc duy trì chữ tín tập thể. Mỗi quốc gia đều có lợi ích riêng, đôi khi mâu thuẫn với lợi ích chung của khối. Nguyên tắc đồng thuận của ASEAN đôi khi bị lợi dụng để trì hoãn các quyết định quan trọng. Các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông là thách thức lớn nhất đối với sự tin cậy lẫn nhau. Một số quốc gia có hành động đơn phương, vi phạm cam kết đã ký kết, làm suy giảm niềm tin chung trong khối.

2.2. Tác động của xu thế đa cực đến quan hệ hợp tác khu vực

Bước sang thời kỳ mới, cục diện đối đầu giữa hai khối độc lập do Liên Xô và Mỹ đứng đầu không còn nữa. Thay vào đó, cục diện mới nhiều trung tâm quyền lực đã hình thành. Hòa hoãn, độc lập và phát triển là xu thế chủ đạo trong khu vực. Quan hệ quốc tế chuyển từ đối kháng quân sự sang cạnh tranh kinh tế. Các nước đều mong muốn thúc đẩy hợp tác để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, sự cạnh tranh giữa các cường quốc bên ngoài tạo áp lực buộc các quốc gia ASEAN phải cân nhắc kỹ lưỡng. Trong bối cảnh này, chữ tín trở thành yếu tố quyết định sự gắn kết nội bộ khối.

III. Giải pháp ứng dụng chữ tín trong hợp tác Việt Nam ASEAN hiện đại

Để ứng dụng hiệu quả chữ tín trong hợp tác Việt Nam-ASEAN, cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Thứ nhất, tăng cường đối thoại chính trị cấp cao nhằm xây dựng sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau. Các cuộc gặp thượng đỉnh ASEAN định kỳ là cơ hội quan trọng để củng cố cam kết chung. Thứ hai, hoàn thiện cơ chế giám sát và thực thi các thỏa thuận đa phương. Chữ tín phải được thể hiện bằng hành động cụ thể, không chỉ là lời hứa trên giấy. Thứ ba, thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư nội khối. Khi lợi ích kinh tế gắn bó chặt chẽ, các quốc gia có động lực mạnh mẽ hơn để giữ chữ tín. Thứ tư, phát huy vai trò của văn hóa trong việc xây dựng lòng tin. Giao lưu văn hóa, giáo dục và du lịch giúp người dân các nước hiểu biết lẫn nhau sâu sắc hơn. Việt Nam cần chủ động đóng góp vào việc định hình các chuẩn mực ứng xử chung của ASEAN, thể hiện hình ảnh quốc gia đáng tin cậy trên trường quốc tế.

3.1. Xây dựng cơ chế thực thi cam kết trong khuôn khổ ASEAN

ASEAN cần xây dựng cơ chế thực thi cam kết hiệu quả hơn để biến chữ tín thành hành động cụ thể. Hiện nay, nguyên tắc không can thiệp nội bộ và đồng thuận đôi khi hạn chế khả năng giám sát việc thực hiện cam kết. Giải pháp là thiết lập cơ chế đánh giá định kỳ, trong đó các quốc gia tự nguyện báo cáo tiến độ thực hiện. ASEAN cũng cần tăng cường vai trò của Ban Thư ký ASEAN trong việc theo dõi và giám sát. Các cơ chế giải quyết tranh chấp cần được cải thiện để xử lý kịp thời các vi phạm. Quan trọng nhất là xây dựng văn hóa trách nhiệm, nơi mỗi quốc gia tự ý thức về nghĩa vụ giữ chữ tín với cộng đồng khu vực.

3.2. Vai trò của giáo dục và giao lưu văn hóa trong xây dựng lòng tin

Giáo dục và giao lưu văn hóa là công cụ hiệu quả để xây dựng lòng tin giữa các quốc gia ASEAN. Việc giảng dạy lịch sử, văn hóa và triết lý chung của khu vực giúp thế hệ trẻ hiểu biết lẫn nhau. Các chương trình trao đổi sinh viên, nghiên cứu sinh thúc đẩy sự gắn kết giữa người dân các nước. Việt Nam có thể phát huy giá trị Nho giáo như cầu nối văn hóa với các quốc gia có truyền thống Nho giáo trong ASEAN. Festival văn hóa, triển lãm nghệ thuật và sự kiện thể thao khu vực cũng góp phần tăng cường hiểu biết. Khi người dân tin tưởng lẫn nhau, quan hệ hợp tác quốc gia sẽ bền vững hơn.

IV. Kết luận và triển vọng ứng dụng triết lý Khổng tử trong hội nhập ASEAN

Triết lý Khổng tử và chữ tín có vai trò quan trọng trong hợp tác đa phương Việt Nam-ASEAN. Giá trị chữ tín không chỉ là di sản văn hóa truyền thống mà còn là nguyên tắc ứng xử thực tiễn trong quan hệ quốc tế hiện đại. Việt Nam khi gia nhập ASEAN đã mang theo truyền thống tín nghĩa, đồng thời tiếp thu tinh thần hợp tác khu vực. Sự kết hợp này tạo nền tảng vững chắc cho quá trình hội nhập. Tuy nhiên, thách thức vẫn còn đó. Sự đa dạng về lợi ích, cạnh tranh giữa các cường quốc và các tranh chấp lãnh thổ đòi hỏi nỗ lực không ngừng trong việc xây dựng và duy trì lòng tin. Giải pháp nằm ở việc hoàn thiện cơ chế hợp tác, tăng cường giao lưu văn hóa và phát huy vai trò chủ động của Việt Nam trong ASEAN. Triển vọng ứng dụng triết lý Khổng tử rất rộng lớn. Khi thế giới đối mặt với nhiều bất ổn, giá trị nhân văn và đạo đức của Nho giáo trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Việt Nam có tiềm năng trở thành cầu nối văn hóa, góp phần xây dựng một ASEAN đoàn kết, thịnh vượng và bền vững.

4.1. Bài học từ quá trình Việt Nam hóa Nho giáo cho hội nhập hiện đại

Quá trình Việt Nam hóa Nho giáo qua bốn độ khúc xạ là bài học quý giá cho hội nhập hiện đại. Khi tiếp nhận triết lý Khổng tử, Việt Nam không sao chép nguyên bản mà điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Nguyên tắc đại hiếu thắng tiểu hiếu, đại nghĩa thắng tiểu nghĩa thể hiện sự sáng tạo trong tiếp thu. Nguyễn Trãi, một nhà Nho tiêu biểu, luôn đặt lợi ích Tổ quốc lên trên quan hệ cá nhân. Tinh thần này cần được phát huy trong hội nhập ASEAN. Việt Nam tiếp thu tinh hoa quốc tế nhưng giữ vững bản sắc dân tộc, biến ngoại lực thành nội lực phục vụ phát triển đất nước.

4.2. Triển vọng xây dựng cộng đồng ASEAN dựa trên nền tảng chữ tín

Triển vọng xây dựng cộng đồng ASEAN dựa trên nền tảng chữ tín rất lạc quan. ASEAN đang hướng tới ba trụ cột: Cộng đồng An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội. Chữ tín là yếu tố xuyên suốt liên kết ba trụ cột này. Khi các quốc gia giữ cam kết, môi trường an ninh ổn định, kinh tế phát triển và giao lưu văn hóa sâu rộng. Việt Nam với truyền thống tín nghĩa có thể đóng vai trò tiên phong trong việc đề xuất các sáng kiến xây dựng lòng tin. Tương lai ASEAN phụ thuộc vào khả năng biến lời hứa thành hành động của từng quốc gia thành viên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Ảnh hưởng của triết lý khổng tử và vai trò của chữ tín trong các môi quan hệ hợp tác đa phương việt nam asean khóa luận tốt nghiệp đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I : ẢNH HƯỞNG CỦA T R IẾ T l ý K H ổN G t ử ĐÔÌ v ớ i C Ấ C NƯỚC ĐÔNG NAM Á 1. Trong giai đoạn lịch sử: Đông Nam Á như một khu vực lịch sử văn hóa. Nền văn minh Đông Nam Á cổ bên cạnh các nền văn minh khác ở châu Á, như văn minh Ân Độ và văn minh Trung Hoa, với một hản sắc riêng, đã phát triển liên tục trong sự tiếp xúc và hội tụ văn hóa và đã có những đổng góp to lởn vào những thành tựu của nhân loại. Đó là: - Một cái nôi hình thành loài người.

- Một cái nôi trồng trọt và một nền văn minh nóng nghiệp lúa nước và nghề biển cổ truyền. - Một hệ thông các quốíc gia cổ đại vđi những nền văn hóa dân tộc độc đáo. - Một cao trào giải phổng dân tộc triệt để.<u Vđi “cái nôi trồng trọt” và một “nền văn minh nông nghiệp lúc nước”, như vậy đã xây dựng nên một mô hình văn hóa Đông Nam Á cổ truyền với ba hệ thông chính: - Hệ thống các sản phẩm vật chất của phức thể văn minh nông nghiệp mà cây lúa là nhân vật trung tâm.<2) - Hệ thống các tổ chức và thiết chế gia đình - làng - nưđc.(,) - Hệ thống các nghi lễ nông nghiệp, tín ngưỡng và các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian.<4) Từ mô hình văn hóa Đông Nam Á cổ truyền vđi ba hộ thông chính như trên, chúng tôi đi vào nghiên cứu ảnh hưỏng của văn minh Trung Hoa nói chung và của triết lý Khổng tử nói riêng đôi với các nước Đông Nam Á. Nếu như nền văn minh Ân Độ, “vđi khuynh hưđng suy luận trừu tượng, coi trọng tính phổ quát, hướng vào bén trong” <5) đã phát triển rất cao và dóng góp lđn lao vào đời sông tâm linh của cư dân Đông Nam Á bằng con (1) Phạm Đức Dương, Việt Nam trong hối cảnh Đông Nam Á (Đề cương nghiên cứu tập hỢp ý kiến của nhiều nhà khoa học : Từ Chi, Trần Quốc vưựng, Hà Văn Tân, Nhữ Thành, Phạm Nguyên Long, Cao Xuân Phổ.

Tạp chí dân tộc học sô" 2/1981, trang 66. (2) Phạm Đức Dương, sđd, tr. (3) Phạm Đức Dương, sđd, tr. (4) Phạm Đức Dương, sdd, tr.

(5) Phạm Đức Dương, Việt Nam - Đông Nam Á - Châu Ả : dấu ân ngày xưa và những quan hệ ngày nay. Sách : những vấn đề lịch sử văn hóa ĐNA, tr. Luán ván tó't rujhiép dtíóng “truyén bá ton giáo hba binh”; thi nén ván minh Trung Hoa, mác dü dtíóc truyén bá theo con dufóng “mifu bá do vtíóng” nhiíng ván minh Trung Hoa va triét ly cüa Khong tu’ lai có ánh htíóng sáu sác den he tu" tifóng va tao nén su" on dinh xa hói d các mide Bóng Nam Á. Ván hóa Trung Hoa phát minh va phát trien tren dai luc Á Bóng rpng lón, phtíóng Bong la dai dt/óng ménh móng, ba be con lai la núi non húng vi vá hoang mac bao la; thóng thiíóng tren bien va máu djch dufóng bo déu rát khó khan.

Vdi mói truóng dia ly ntía khép kín nhtí vay, he thóng ván hóa co dai Trung Quóc da có mpt có che" cách ly khá hoán bi: ngUÓi Trung Hoa sóng chính báng canh nóng vá nóng nghiép cüa dan toe náy, có ba dác diém ró ret: - Coi tri ly nguón nifóc la cóng viec quan trong háng dáu, dan den dác triíng che do nhát thóng chuyén che vá dác triíng tám ly tíc che" cá tính, dé cao y thtfc táp thé vá quyén uy cá biet.11’ - Sóng nhó trói, phu thuoe váo thién nhien, thuan theo thién nhién, vi thé'má phiíóng dién ké"t cá"u tám ly ton thó nguyén tác”thién nhán cám óng”, yéu cáu ve “thién” cao hón so vói yéu cáu ve “chán”.<2) - Cupe sóng tuy gian kho song có sií bao dám nhát dinh, tao nén xu htíóng tám ly can “on ”, cáu “tlnh”.( í) Vói triét ly thrfc dung vá phifóng pháp tií duy triíc quan, cu thé, nén ván minh Trung Hoa táp trung chü y den chính tri - xa hói, da tao nén mpt thiét che"het sifc chát che cüa che"dó quan chü, má tiéu biéu la hé thóng quan niém “tu thán, té gia, tri quóc, blnh thién ha” cüa Nho giáo. *- Theo nhiéu nhá khoa hoc thi các míóc chiu ánh hufóng ván hóa Trung Hoa truyén thóng déu có mó'i quan he “dóng ván”, ó dó su" thóng nhát quóc gia diíóc xáy di/ng tren mpt y thóc dán tóc cao, xa hói coi trong ván hóa giáo duc vá hinh thánh mpt dao ly sóng, mpt ló"i üng xü" mang tính cóng dong gán nhau. Thát váy, các niíóc Bóng Nam Á déu có mpt mói quan hé “dóng ván”. Vi la vüng trong lúa nifóc, nén Bóng Nam Á có mpt nén ván minh khá thuan nhát cüa cií dán nóng nghiép lúa ni/óc vói mpt phiíc thé góm ba yéu tó": ván hóa dóng báng, ván hóa núi, ván hóa bien, trong dó yéu tó" ván hóa dóng báng tuy có sau nhiTng chiém vai tro chü dao.<4' Bóng Nam Á la mpt khu vtfc du\íc dác triíng kién tao hói khí háu, thó nhiíóng cüng nhó dóng thóc vát khác nhau.

Cách dáy khoáng bón van nám1 234(S) , khu vóc Bóng Nam Á la mpt ncíi (1) Cao Xuan Phó, mot so van dé ve ván hóa vá phát trien ó khu vafe DNA, sách quan hé Viét Nam - DNA, Vién DNA, tr. (2) Cao Xuan Phó, sdd, tr. (3) Cao Xuan Phó, sdd, tr. (4) Pham Diíc DuWng, giao lifu ván hóa ó DNA, sách quan he Viét Nam - DNA, Vién DNA, tr.

(5) Pham Diíc Dtfring, Viét Nam trong hói cánh DNA, sdd, tr. - 6 - Luận văn tót nghiệp chứng kiến bươc nhảy biện chứng từ người thương cổ thành người hiện đại (người Homosapiens). Nơi đây đã diễn ra sự giao hòa giữa hai đại chủng Ôxtraloit và Mongôloit, kết quả đã tạo ra nhiều loại hình nhân chủng có sự kết hợp ở mức độ đậm nhạt khác nhau. Đó chính là cơ sơ để hình thành những dân tộc khá thuần nhất về mặt nhân chủng và ngôn ngữ.

Cư dân Đỏng Nam Á là những người đã sáng tạo ra nền văn minh nông nghiệp lúa nưđc. Điểu đó, ngày nay đã được nhiều bộ môn khoa học, nhất là hộ môn sinh thái học, dân tộc học, khảo cổ học,. Các công cuộc cách mạng về đá mơi, thời đại kim khí và đặc biệt là giai đoạn dồng thau v. dã lần lượt diễn ra trên toàn vùng này cùng vơi nền nông nghiệp lúa nưđc.

Giai doạn Đông Sơn - giai đoạn đồng thau cực thịnh, mà gần dây khoa học đã tìm thây cả ơ Việt Nam và các nước khác trong vùng như Indonesia, Thái Lan và Malaysia là một minh chứng rất sinh động. Có thể nói, hầu hết các quốc gia cổ dại Đông Nam Á đều hình thành trong quá trình chinh phục dồng hằng các con sông lơn và trong quá trình hội tụ văn hóa xã hội. Các quốc gia này dều lấy nông nghiệp lúa nươc làm chỗ dựa và xây dựng nên những nền văn hóa truyền thông mang sắc thái dân tộc dộc đáo, trong sự tiếp xúc hai chiều khác nhau vơi hai nền văn hóa Ân Độ và Trung Hoa. Sự hình thành các quốíc gia này gắn liền vơi việc tiếp thu ảnh hương văn hóa Ân Độ và Trung Hoa.

Và giữa các quốc gia vơi nhau vẫn thường xuyên cổ mối quan hệ, trao đổi văn hổa và sản phẩm, đồng thời phát triển bản sắc văn hóa riêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Ảnh hương của văn hóa Ân Độ lan tỏa một cách sâu sắc trên phần lơn Đỏng Nam A. Mức độ ảnh hương của văn hóa An Độ ỡ Đông Nam A tuy có rộng lơn và sâu xa, song cũng khổng thể phủ nhận một thực tế là vùng chịu ảnh hương của văn hóa Ân Độ cũng có ít nhiều ảnh hương của văn hóa Trung Quốc, của cả các tộc xung quanh, và ngược lại, vùng chịu ảnh hương văn hóa Trung Quôc cũng có ít nhiều ảnh hương văn hóa Ân Độ. ¿Tuy quá trình hội tụ văn hóa Trung Hoa diỗn ra theo con dường “mưu bá dồ vương”, mang tính áp đặt, đồng hóa các tư tương nươc lơn nên làm cho các nươc láng giềng e ngại, không sẵn sàng châp nhận ảnh hương văn hóa Trung Hoa trên các mặt tôn giáo, nghệ thuật, chữ viết.

Song, cái mà chúng ta không thể phủ nhận, đó là tư tương của Nho giáO|Và triết lý của Khổng tử đã ảnh hương sầu sắc đến đời sống tinh thần và đời sông tâm linh của vùng này. Khổng giáo xét con người trong quan hệ vơi những con ngươi và chỉ trong quan hệ ấy mà thôi. Điều này hoàn toàn phù hợp vơi đời sống tinh thần của hầu hết cư dân nông nghiệp vùng Đông Nam Á. Không phải ơ chỗ chinh phục vũ trụ như một số’ đạo giáo ở phương Tây, hoặc không phải ơ chỗ tìm sự liên hệ vơi linh hồn, vũ trụ, thần linh, thượng dê’ v.

như ớ đạo Hồi, hay ở - 7 - Luận vãn tốt nghiệ-p chỗ giải thích kiếp trươc, lý luận cho kiếp sau như ở Phật giáo , Bà la môn giáo. Khác hẳn với các đạo giáo khác, Khổng giáo xét con người ngay ỏ trong những quan hệ giữa người vđi người. Cuộc sóng thực tế còn chưa đẹp, cồn đầy hất công phi lý, nhưng ta không được quay lưng với nó, mà phải dấn thân vào, tìm mọi cách để cải thiện nó hằng chính cách đôi xử của ta vđi mọi người, hằng những lời nói và hành vi đẹp đẽ. Cơ sở hành vi này rất giản dị “cái gì mình khổng muôn thì dừng dem ra thi hành vđi người khác”.

Khi mọi người đều đôi xử vđi người khác như dổi vơi chính mình thì xã hội hài hòa. Có thể nói, chưa nơi nào có một lôì sống cộng dồng chặt chẽ như vùng Đỏng Nam Á. Cũng chính vì sống bằng nông nghiệp lúa nước đã hình thành nơi đây lốỉ ứng xử của cư dân Đông Nam Á theo kiểu “trong họ ngoài làng, bán anh em xa mua láng giềng gần” hay “bầu ơi thương lấy bí cùng. Một lôi sống coi trọng cộng đồng và tôn trọng lợi ích tập thể.

Vì vậy, Khổng tử vơi chủ trương eủa ông là xây dựng quan hệ giữa con ngươi vơi con người trong cộng đồng, trong xã hội nhằm làm cho cộng đồng đó, xã hội đó ngày càng hoàn thiện hơn, sông doàn kết và có kỷ cương hơn, là hoàn toàn phù hợp vơi cư dân Đông Nam Á. ^Khổng tử là ngươi luôn luôn sông mưu cầu cho một cộng dồng yên ổn, lương thiện. Phàm làm việc gì ông cũng suy nghĩ tính toán trưđc sau, xem việc làm của ỏng (ngươi quân tử) hương cho dân (kẻ tiểu nhân) theo hương thiện hay không?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ