MỞ ĐẦU Trích chọn thông tin (Information Extraction - IE), đặc biệt là trích chọn sự kiện (Event Extraction - EE) là một lĩnh vực con trong khai phá dữ liệu (Data Mining - DM). Những năm gần đây, trích chọn sự kiện đã thu hút nhiều sự quan tâm từ các nhà khoa học trên thế giới và đã thu đƣợc nhiều kết quả trong thực tế. Trích chọn sự kiện có thể áp dụng vào nhiều miền dữ liệu khác nhau nhƣ kinh tế, văn hóa, y tế, xã hội (chẳng hạn nhƣ thông tin về các vụ tai nạn giao thông), chính trị,. Theo những con số thống kê trên các trang báo điện tử về con số tai nạn hàng năm, nhƣ: thông tin đăng trên báo điện tử http://binhduong.vn, sáng 03 – 01-2013, Chính phủ tổ chức “Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác trật tự an toàn giao thông năm 2012 và triển khai nhiệm vụ năm 2013” do Phó Thủ tƣớng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì.
Trong hội nghị, Ủy ban An toàn giao thông ATGT Quốc gia đã thống kê: năm 2012, cả nước xảy ra 36.376 vụ tai nạn giao thông, làm chết 9.838 người, bị thương 38. Cũng theo báo điện tử http://hanoimoi.vn, ngày 31-12-2013, Phó Thủ tƣớng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban ATGT Quốc gia Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì hội nghị trực tuyến với các bộ, ngành, địa phƣơng nhằm tổng kết công tác bảo đảm trật tự ATGT năm 2013 và triển khai nhiệm vụ năm 2014. Theo thống kê của Ủy ban ATGT Quốc gia, năm 2013 cả nước đã xảy ra 29.385 vụ tai nạn giao thông (TNGT), làm chết 9.369 người, bị thương 29. Từ các con số thống kê tai nạn giao thông hàng năm, chúng ta thấy số vụ tai nạn còn rất cao, đi cùng với nó là con số tử vong và số thƣơng vong là rất lớn.
Mặt khác, bản tin vụ tai nạn đƣợc cập nhật khá đầy đủ và mang tính thời sự trên các báo điện tử. Hơn nữa, trích chọn sự kiện đang rất phát triển, chúng ta có thể sử dụng trích chọn sự kiện để trích chọn thông tin hữu ích từ các bản tin vụ tai nạn, kết quả của quá trình này sẽ đƣợc thống kê thành các con số hữu ích giúp các nhà quản lý và ngƣời dân tham gia giao thông đúng cách. Đó cũng là lý do, tác giả chọn và nghiên cứu đề tài“Trích chọn sự kiện trong văn bản tin tức vii TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếng Việt” miền dữ liệu khai thác là sự kiện vụ tai nạn. Chi tiết luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng: Chƣơng 1.
Giới thiệu đề tài Chƣơng này trình bày cơ bản về bài toán trích chọn sự kiện trong bối cảnh bùng nổ thông tin trên Internet. Hơn nữa nêu lên đƣợc ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn, ứng dụng của đề tài trích chọn sự kiện vụ tai nạn giao thông trên miền văn bản tiếng Việt.Một số phƣơng pháp tiếp cận Chƣơng này tập trung trình bày các phƣơng pháp tiếp cận cho bài toán trích chọn sự kiện đó là, phƣơng pháp tiếp cận dựa trên tâp luật, phƣơng pháp tiếp cận dựa trên học máy, phƣơng pháp tiếp cận kết hợp luật và học máy, trong mỗi phƣơng pháp đều có nhận xét hữu ích. Từ đó, luận văn sẽ chỉ ra phƣơng pháp phù hợp cho bài toán trích chọn sự kiện vụ tai nạn. Đề xuất mô hình trích chọn sự kiện vụ tai nạn Chƣơng này, phát biểu và mô tả mô hình tổng thể cho bài toán trích chọn sự kiện vụ tai nạn.
Sau đó, phát biểu, mô tả mô hình chi tiết và cách giải quyết cho hai bài toán: phát hiện sự kiện và trích chọn sự kiện. Thực nghiệm và đánh giá Chƣơng này, luận văn mô tả quá trình thực nghiệm và đánh giả kết quả đề xuất dựa trên hai bài toán, đó là: bài toán phát hiện sự kiện và bài toán trích chọn sự kiện. Ba độ đo đƣợc sử dụng trong pha phát hiện sự kiện là độ chính xác (P - Precision), độ hồi tƣởng (R - Recall), và độ đo F1 (F1-score) và so sánh với kết quả đánh giá thủ công (bằng tay) cho pha trích chọn sự kiện. Thống kê và đánh giá (biểu đồ) các thuộc tính đã đƣợc trích chọn.
Phần kết luận: trình bày kết quả đạt đƣợc của luận văn, những hạn chế và hƣớng phát triển của luận văn trong tƣơng lai. viii TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI Trong chƣơng này, luận văn tập trung giải quyết các vấn đề sau: giới thiệu bài toán trích chọn thông tin, tổng quan về sự kiện, trích chọn sự kiện trong văn bản tin tức tiếng Việt (tin tức đƣợc đề cập là vụ tai nạn), ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của bài toán trích chọn sự kiện vụ tai nạn. BÀI TOÁN TRÍCH CHỌN THÔNG TIN TRONG VĂN BẢN Theo Douglas E.
Appelt, trích chọn thông tin (Information Extraction- IE) có thể đƣợc coi nằm giữa thu hồi thông tin (Information Retrieval - IR) và hiểu văn bản (Text Understanding - UT) [2]. Không giống nhƣ thu hồi thông tin chỉ tập trung vào các mẫu thông tin có liên quan trong văn bản mà không chú trọng đến việc hiểu văn bản; trích chọn thông tin còn quan tâm tới các sự kiện có liên quan trong văn bản và biểu diễn chúng dƣới dạng các khuôn mẫu thông tin có liên quan trong văn bản và biểu diễn chúng dƣới dạng khuôn mẫu. Khác với hiểu văn bản chỉ tập trung trên một phần nhỏ của văn bản (câu, đoạn), trích chọn thông tin quan tâm tới toàn bộ nội dung văn bản. Theo Peshkin và Pfeffer [11], trích chọn thông tin có thể đƣợc định nghĩa: như là một công việc điền thông tin vào các mẫu từ các dữ liệu chưa biết trước trong miền được định nghĩa trước.
Mục tiêu của trích chọn thông tin là lấy từ văn bản các thông tin nổi bật của các sự kiện, thực thể, các mối liên hệ. Nhƣ vậy, có thể coi trích xuất thông tin là một kỹ nghệ lấy và biểu diễn tri thức thành các thông tin có định dạng và hữu ích từ nguồn dữ liệu lớn trên Internet. Bài toán trích chọn thông tin trong văn bản có thể đƣợc phát biểu nhƣ sau: - Đầu vào: dữ liệu văn bản bất kỳ - Đầu ra: thông tin hữu ích dƣới dạng có cấu trúc. TỔNG QUAN VỀ SỰ KIỆN Trích chọn sự kiện với vai trò trích chọn ra các thông tin có ý nghĩa từ tập dữ liệu lớn và đƣợc cộng đồng khoa học rất quan tâm và đầu tƣ nghiên cứu.
1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1987, Message Understanding Conferences (MUC)6 đƣợc tổ chức với sự hỗ trợ của Quỹ nghiên cứu Bộ quốc phòng Hoa Kỳ7 và lần đầu tiên khái niệm event (sự kiện) đƣợc đề cập. Sau đó, rất nhiều hội nghị đƣợc tổ chức tạo thành dãy hội nghị MUC. Với mỗi hội nghị, thông tin đƣợc quan tâm khác nhau nhƣng đều có đặc điểm chung là chúng đƣợc trích xuất từ dữ liệu nói về khủng hoảng (crisis). Các chủ đề trong dữ liệu thƣờng là tội phạm, khủng bố, đánh bom… một trong những đóng góp lớn của MUC là đƣa ra việc trích chọn thông tin dựa trên mẫu (scenariotemplate).
Các mẫu đƣợc ban tổ chức quy định và các đội tham gia cần điền thông tin vào các mẫu này một các tự động. Cuối cùng, các sự kiện đƣợc trích chọn gồm các thông tin: tổ chức, đối tƣợng tham gia (ngƣời, sự vật, sự việc), thời gian, địa điểm, số lƣợng…Độ chính xác (precision) và hồi tƣởng (recall) của các nghiên cứu tham dự MUC nằm trong khoảng 50% đến 60% [5]. Chƣơng trình Phát hiện và theo dõi chủ đề (Topic Detection and Tracking, TDT)8 đƣợc tổ chức từ năm 1997 thu hút nhiều nhóm nghiên cứu từ các trƣờng đại học tham gia. Chƣơng trình này đƣợc phối hợp bởi Viện Công nghệ và Chuẩn hoá quốc gia Hoa Kỳ (NIST) và DAPRA nhằm giải quyết bài toán phát hiện, theo dõi và xâu chuỗi sự kiện.
Một số nhóm nghiên cứu tham gia chƣơng trình nhƣ sau: nhóm CMU của đại học Carnegie Mellon, nhóm BBN từ công ty BBN Technologies, nhóm DRAGON của công ty Dragon, nhóm UPENN của trƣờng đại học Pennsylvania (UPENN). Các bài toán quan trọng của TDT gồm: Story Segmentation, Topic Tracking, Topic Detection, First Story Detection, và Link Detection. Chƣơng trình Trích chọn nội dung tự động (Automatic Content Extraction, ACE) của đại học Pennsylvania cũng thu hút đƣợc nhiều quan tâm từ các cộng đồng nghiên cứu và trích chọn thông tin cũng nhƣ trích chọn sự kiện. Chƣơng trình này tập trung vào các ngôn ngữ nhƣ tiếng Anh, Trung Quốc và Ả rập.
Các thông tin đƣợc trích chọn gồm các thực thể, quan hệ giữa các thực thể, và các sự kiện chúng tham gia vào. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy, có thể thấy rằng trích chọn thông tin nói chung và trích chọn sự kiện nói riêng là một vấn đề quan trọng và thời đại, nhận đƣợc rất nhiều quan tâm từ cộng đồng khoa học. Trong phần tiếp theo luận văn sẽ làm sáng tỏ định nghĩa sự kiện [1.1] và trích chọn sự kiện [1. Định nghĩa sự kiện Trích chọn sự kiện lần đầu tiên đƣợc giới thiệu nhƣ một chủ đề quan trọng trong Message Understanding Conference (MUC) năm 1987 [21].
Trong MUC, một sự kiện đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “một sự kiện có tác nhân (actor), thời gian (time), địa điểm (place) và tác động tới môi trường xung quanh”. Trong chƣơng trình ACE, Dodington Deorge R và cộng sự đƣa ra định nghĩa sự kiện nhƣ sau: “một sự kiện là một hành động được tạo bởi những người tham gia”[22]. ACE chia sự kiện thành 8 loại khác nhau: LIFE (sự sống - chết), MOVEMENT (sự di chuyển), TRANSACTION (giao dịch), BUSINESS (kinh tế), CONFLICT (xung đột), CONTACT (giao thiệp), PERSONNEL (nhận - đổi việc), JUSTICE (pháp lý). Mỗi dạng sự kiện lại phân biệt từng dạng con.
Ví dụ, LIFE có các dạng con nhƣ BE-BORN (chào đời), INJURE (bị thƣơng), DIE (chết), hay PERSONAL có START-POSITION (vị trí khi nhận việc), END-POSITION (vị trí khi thôi việc), NOMINATE (bổ nhiệm), ELECT (bầu chọn),. Có thể thấy rằng các nghiên cứu liệt kê ở trên đều đồng ý rằng sự kiện có thể coi nhƣ một mẫu (template) gồm nhiều các thuộc tính (elements). Quá trình trích chọn sự kiện quan tâm tới việc làm thế nào có thể điền các thông tin phù hợp từ các văn bản gốc tƣơng ứng từng thuộc tính. Trích chọn sự kiện Trích chọn sự kiện và trích chọn thông tin có điểm gì chung? Có thể nói rằng trích chọn sự kiện là một lĩnh vực con của trích chọn thông tin.
Nếu nhƣ trích chọn thông tin chỉ quan tâm các dữ liệu rời rạc (tên ngƣời, địa điểm, các con số,…) thì trích chọn sự kiện quan tâm nhiều hơn tới tính cấu trúc và mức độ 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com liên quan của thông tin trong một sự kiện.