phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương, 11 tiết. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2. Một số vấn đề lí luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Chương 3. Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay - một số kết quả và hạn chế Chương 4.
Cơ hội, thách thức và một số định hướng, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện việc trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các học thuyết tiêu biểu và trào lƣu điển hình về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Hiện nay, thuật ngữ “TNXH của DN” (Corporate Social Resposibility) không chỉ được sử dụng thường xuyên trong các tài liệu sách, báo cáo khoa học, mà còn được sử dụng khá thông dụng trong các chương trình phát thanh, truyền hình liên quan, trong khẩu ngữ giao tiếp của công chức, doanh nhân, nhà báo, các nhà khoa học… ở nhiều quốc gia. TNXH của DN đã, đang và sẽ trở thành mối quan tâm của quốc tế, của thời đại.
Trên công cụ tìm kiếm khi gõ thuật ngữ Corporate Social Resposibility, - Google cho ra gần 81.000 kết quả liên quan đến công trình viết về TNXH của DN. Con số này cho thấy, TNXH của DN đang là mối quan tâm của toàn thế giới. Điều đó còn cho thấy sự quan tâm của xã hội đến TNXH của DN ngày càng nhiều. Đa số các công trình nghiên cứu về vấn đề TNXH của DN chỉ mới được bắt đầu từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX.
Những công trình này bao gồm những cuốn sách, các báo cáo của các tổ chức phi chính phủ, các bài báo trên tạp chí, các đề tài nghiên cứu hay những bài phát biểu tại các hội nghị, hội thảo quốc tế. Các học thuyết tiêu biểu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - Học thuyết về giá trị dành cho các cổ đông (shareholder value theory): Đây là một học thuyết của Milton Friedman, một nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm 1970 được đề cập trong công trình The Social Responsibility of Business is to increase its Profits (Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gia tăng lợi nhuận) [164], The New York Times Magazine, 13 tháng 9 năm 1970 và vào năm 2002 với công trình Chủ nghĩa tư bản và tự do (Capitalism and Freedom) [165]. Trong học thuyết này, Friedman cho rằng, ngoài trách nhiệm pháp lý, TNXH của DN chỉ có thể thực hiện bằng các quyết định nhằm nâng cao khả năng sinh lời cho các cổ đông - những người có quyền sở hữu đối với doanh nghiệp. Doanh nghiệp thực hiện những mục tiêu mang tính xã hội là nhằm tạo ra lợi nhuận.
Nhiệm vụ cơ bản của doanh nghiệp là sản xuất hàng hóa và dịch vụ một cách có lợi nhuận. Khi làm việc này, doanh nghiệp đã góp phần phát triển xã hội và như vậy được coi là có TNXH. Lập luận của Friedman dựa trên 3 luận điểm sau: Thứ nhất, người quản lý doanh nghiệp (thành viên Hội đồng quản trị hoặc Ban 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giám đốc) là những người đại diện cho chủ sở hữu/cổ đông đứng ra quản lý doanh nghiệp; được bầu ra hoặc được thuê để dẫn dắt doanh nghiệp theo cách mà cổ đông muốn, đa phần là làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt, đồng thời tuân thủ các quy tắc xã hội, về cơ bản, vốn đã được thể hiện trong luật. Đó là bản chất vì lợi nhuận (for profit) của doanh nghiệp.
Nếu nhà quản lý doanh nghiệp hành động một cách “trách nhiệm” bằng việc cắt giảm giá thành sản phẩm của doanh nghiệp để ngăn chặn lạm phát hoặc chi thêm tiền để giảm ô nhiễm môi trường hoặc tuyển dụng người tàn tật làm việc thì điều đó đồng nghĩa với việc tiêu tiền của cổ đông vào những lợi ích của xã hội và cũng có nghĩa làm tăng chi phí kinh doanh. Nếu những hoạt động mang tính TNXH làm giảm lợi nhuận và cổ tức thì cổ đông sẽ là người chịu thiệt. Nếu giá cả tăng do các hoạt động xã hội đó thì doanh nghiệp sẽ mất khách hàng. Nếu khách hàng không chấp nhận giá cao và việc kinh doanh giảm sút thì công việc kinh doanh có thể sẽ không tồn tại và trong trường hợp này thì tất cả những người có liên quan đến doanh nghiệp sẽ gánh chịu rủi ro.
Hơn thế nữa, Friedman cho rằng, khi nhà quản lý doanh nghiệp chuyên nghiệp theo đuổi bất kỳ điều gì ngoài lợi nhuận thì họ đang tự coi mình là những nhà hoạch định chính sách không được ủng hộ. Ông đặt ra câu hỏi liệu các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thành thạo trong việc ra quyết định xã hội không. Những vị đại diện về chính trị được bầu ra là để đưa ra các quyết định, chính sách. Vậy nên, theo Friedman, TNXH duy nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận.
Luận điểm của Friedman là một “cái phao” giúp các doanh nghiệp biện minh cho hành động không thực hiện TNXH nếu doanh nghiệp chưa thấy cần thiết. Thứ hai, doanh nghiệp vốn là một chủ thể có tư cách pháp nhân, nhưng là một chủ thể “vô tri, vô giác” do con người tạo ra. Do đó, doanh nghiệp không thể tự nhận thức và gánh vác nghĩa vụ đạo đức, vốn chỉ có con người mới có. Bởi vì, chỉ có từng cá nhân con người mới có lương tâm để nhận thức sự việc đúng hay sai.
Thứ ba, TNXH thuộc lĩnh vực của nhà nước, là chủ thể cung cấp các dịch vụ công, vì lợi ích công cộng, phi lợi nhuận. Chỉ có nhà nước mới có đủ thông tin để quyết định đúng đắn trong việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả. Trách nhiệm của doanh nghiệp là tạo ra giá trị gia tăng, phát triển công nghệ (bởi vì doanh nghiệp là chủ thể vì lợi nhuận duy nhất trong xã hội) đem lại lợi nhuận, tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động. Trách nhiệm chính của doanh nghiệp là đóng góp thuế và trách nhiệm của nhà nước là làm sao dùng tiền thuế đó hiệu quả nhất vì lợi ích công cộng.
Nếu doanh nghiệp cũng thực hiện TNXH thì sẽ có sự trùng lặp và doanh nghiệp 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sẽ trở thành người vừa đóng thuế, vừa quyết định việc chi tiêu khoản thuế đó ra sao. Như vậy, học thuyết của Friedman chỉ xem xét TNXH của DN trong mối quan hệ duy nhất: doanh nghiệp - cổ đông, điều này có nghĩa là, những mối quan hệ khác thuộc môi trường bên trong và môi trường bên ngoài doanh nghiệp sẽ bị bỏ qua hay doanh nghiệp không quan tâm đến. Doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng giá trị cổ đông, trong khuôn khổ luật chơi của thị trường là cạnh tranh trung thực và công bằng. Lợi ích xã hội được đảm bảo một cách tốt nhất gián tiếp thông qua hoạt động kinh tế, cụ thể là việc thu lợi nhuận và phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp trong phạm vi giới hạn pháp luật kinh doanh cho phép.
Nếu chỉ nhìn nhận doanh nghiệp hoạt động duy nhất vì lợi nhuận và việc bù đắp chi phí cho xã hội, cũng như trả tiền cho các dịch vụ công mà doanh nghiệp hưởng lợi đã được thực hiên thông qua khoản thuế mà doanh nghiệp đã đóng, thì chỉ ngay một vấn đề như ô nhiễm môi trường do doanh nghiệp gây ra, có thể còn lớn hơn nhiều lần lợi ích nó mang lại cho xã hội từ tiền thuế của mình. Với vai trò là một chủ thể trong xã hội, ngay từ đầu doanh nghiệp đã đóng vai trò của một “công dân” trong xã hội với tất cả quyền và nghĩa vụ thích hợp phải có. - Học thuyết về các bên liên quan (stakeholder theory): Tác giả R. Edward Freeman trình bày học thuyết này trong tác phẩm: "Strategic Management: A Stakeholder Approach" (Quản trị chiến lược: Một cách tiếp cận từ các bên liên quan) Marshall, M.
Sau học thuyết của M. Friedman, cùng với sự xuất hiện của nhiều trào lưu xã hội, TNXH của DN ngày càng mang tính xã hội hơn. Ví dụ, những yếu tố tác động đến môi trường sinh thái do các hoạt động khai thác, chế biến và sản xuất công nghiệp gây ra, cũng như các vấn đề xã hội khác như bảo vệ quyền bình đẳng giới, chống phân biệt đối xử, ô nhiễm môi trường… đã được đề cập. Các tác giả thuộc trào lưu này kêu gọi doanh nghiệp giải quyết những lo lắng, quan ngại, những yêu cầu cũng như những yêu sách được đưa ra bởi những cá nhân, nhóm xã hội, cho dù những yêu cầu và đòi hỏi đó lớn hay nhỏ, quan trọng hay không quan trọng, miễn là chúng chính đáng.
Nói về học thuyết các bên liên quan, E. Freeman cho rằng, TNXH của DN không chỉ được xem xét trong mối tương quan giữa doanh nghiệp và cổ đông mà phải được mở rộng sang nhiều mối quan hệ khác. Ở đây, doanh nghiệp đóng vai trò làm trung tâm trong tổng thể các mối quan hệ với các đối tác, những bên có liên quan, có tác động hoặc chịu tác động bởi các hoạt động cũng như quá trình ra 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyết định của doanh nghiệp. Quan điểm của thuyết này cho rằng: Xã hội là một khái niệm trừu tượng, không cụ thể.
Điều đó làm cho TNXH cũng trở nên mơ hồ, thiếu thực tế. Chắc chắn rằng không ai có thể làm hài lòng tất cả mọi đối tượng trong xã hội; cũng không nhất thiết phải tìm hiểu và thỏa mãn hết mong muốn của mọi đối tượng xã hội khác nhau, kể cả những người không hề có bất kỳ ràng buộc hay cảm thấy có ràng buộc với hoạt động của doanh nghiệp. Chỉ những người có liên quan là những đối tượng có lợi ích bị ràng buộc với hoạt động của doanh nghiệp và thực sự quan tâm đến việc bảo vệ lợi ích của họ. Họ chính là người đại diện cho toàn thể xã hội trong hoạt động của doanh nghiệp [71;151].
Thuật ngữ các bên liên quan xuất hiện trong hướng tiếp cận chiến lược của doanh nghiệp cũng như trong phân tích mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường mà ở đó doanh nghiệp ra quyết định và tiến hành các hoạt động kinh doanh. Theo học thuyết này, quá trình quản trị chiến lược của doanh nghiệp phải xem xét và tính đến những lợi ích, những quan ngại, đòi hỏi của những cá nhân, nhóm xã hội trong môi trường kinh doanh.