Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG Formatted: English (United States) MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1. Khái niệm Để trao đổi, mua hoặc bán hàng hóa trong phạm vi quốc tế, các thương nhân đóng trụ sở thương mại ở các nước khác nhau ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với nhau, ví dụ như: Thương nhân đóng trụ sở thương mại tại Hoa Kỳ ký hợp đồng mua bán giầy da với thương nhân đóng trụ sở thương mại tại Việt Nam; thương nhân có trụ sở thương mại tại Trung Quốc ký hợp đồng mua chuối của thương nhân có trụ sở thương mại tại Philipin… Những hợp đồng này là hợp đồng mua bán hàng hóa trong phạm vi quốc tế, được gọi ngắn gọn là Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế). Vậy Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là gì? Thứ nhất, Theo Công ước La Haye năm 1964 về mua bán quốc tế những động sản hữu hình (gọi tắt là công ước La Haye năm 1964), tại điều 1 quy định: Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại đóng ở các nước khác nhau và hàng hóa được chuyển từ nước người bán sang nước người mua, hoặc ký kết hợp đồng được diễn ra ở các nước khác nhau.
Theo công ước này, tiêu chí ký kết hợp đồng được hiểu là ký kết ở nước người bán hoặc nước người mua hoặc nước thứ ba. Nếu các bên giao kết không có trụ sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ. Yếu tố quốc tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Như vậy theo Công ước La Haye, tiêu chí quan trọng nhất để xác định một hợp đồng là Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là tiêu chí trụ sở thương mại của bên mua và bên bán phải đóng ở các nước khác nhau.
Thứ hai, Theo Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (United Nations Convention on Contracts for International Sales 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com of Goods, Vienna 1980 – CISG, gọi tắt là Công ước Viên năm 1980), tiêu chí để xác định tính chất quốc tế của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy định tại điều 1 như sau: 1. Công ước áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau. Khi các quốc gia là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc, b. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này.
2 Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên. Quốc tịch của các bên, quy chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính chất dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước. Theo Công ước Viên 1980 chỉ có một tiêu chí duy nhất để xác định một hợp đồng là Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là tiêu chí bên mua và bên bán phải có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau. Giống như Công ước La Haye năm 1964, Công ước này cũng không quan tâm đến vấn đề quốc tịch của các bên khi xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Nhưng khác với Công ước La Haye năm 1964, Công ước Viên năm 1980 không đưa ra tiêu chí hàng hoá phải được chuyển qua biên giới của một nước, việc chào hàng và chấp nhận chào hàng phải được độc lập ở các nước khác nhau để xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Như vậy, dù hai công ước quan trọng nhất về mua bán hàng hóa quốc tế là Công ước La Haye năm 1964 và Công ước Viên năm 1980 không đưa ra khái niệm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhưng đều lấy tiêu chí trụ sở thương mại của các bên đương sự làm tiêu chí quan trọng nhất để xác định tính chất quốc tế của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Cùng với sự phát triển của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, các điều ước quốc tế về thương mại quốc tế hiện nay đều có quan điểm tương đối thống nhất về tiêu chí xác định tính chất quốc tế của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đó là tiêu chí các bên tham gia hợp đồng có trụ sở thương mại đặt tại các quốc gia khác 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Yếu tố quốc tịch của các bên, hay hàng hóa phải dịch chuyển qua biên giới quốc gia, hay việc chào hàng và chấp nhận chào hàng phải được độc lập ở các nước khác nhau… không còn là tiêu chí bắt buộc nữa.
Điều này giải thích cho việc các hợp đồng mua bán hàng hóa trong khu chế xuất, khu thương mại tự do. cũng được coi là Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Thứ ba, Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quan điểm của Pháp: khi xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, Cộng hòa Pháp căn cứ vào hai tiêu chuẩn kinh tế và pháp lý. Theo các tiêu chuẩn kinh tế, một hợp đồng quốc tế là hợp đồng tạo nên sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước, nói cách khác, hợp đồng đó thể hiện quyền lợi của thương mại quốc tế.
Theo tiêu chuẩn pháp lý, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch, nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán. Thứ tư, Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam: Trong hoạt động giao thương quốc tế, hợp đồng mua bán hàng hóa giữa thương nhân có trụ sở thương mại tại Việt Nam và thương nhân có trụ sở thương mại tại nước khác được ký kết, các hợp đồng này được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như: “hợp đồng xuất nhập khẩu”, “hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài”, “hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương”. Dù với tên gọi nào thì các hợp đồng này vẫn là hợp đồng mua bán hàng hóa trong phạm vi quốc tế. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, trước khi trở thành hợp đồng mua bán hàng hóa trong phạm vi quốc tế thì hợp đồng đó phải là hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại Đạo luật gốc của Việt Nam là Bộ luật Dân sự, cụ thể tại điều 428 quy định: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.
Để hợp đồng mua bán tài sản trở thành Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì hợp đồng phải thêm điều kiện yếu tố quốc tế, pháp luật Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển của đất nước lại quy định không hoàn toàn giống nhau về khái niệm hoặc tiêu chí xác định yếu tố quốc tế của Hợp đồng mua 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bán hàng hóa quốc tế: Một là: Quy chế tạm thời số 4794-TN-XNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thương nghiệp hướng dẫn việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương (HĐMBHHNT) đưa ra khái niệm HĐMBHHNT như sau: Hợp đồng mua bán hàng hoá ngoại thương là hợp đồng mua bán hàng hoá có tính chất quốc tế. Tính chất này của hợp đồng mua bán hàng hoá ngoại thương thể hiện ở những mặt sau: a. Chủ thể của HĐMBHHNT là các pháp nhân có quốc tịch khác nhau. Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng thông thường được di chuyển từ nước này qua nước khác.
Đồng tiền thanh toán trong HĐMBHHNT là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên ký kết hợp đồng. Theo quy chế này thì HĐMBHHNT tiêu chí xác định tính quốc tế là: thứ nhất, hợp đồng được ký kết giữa pháp nhân Việt Nam, mang quốc tịch Việt Nam, có trụ sở thương mại tại Việt Nam và thương nhân có quốc tịch nước ngoài, có trụ sở thương mại ở nước ngoài; thứ hai, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng được dịch chuyển từ nước người bán sang nước người mua; thứ ba, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ của một hoặc cả hai bên. Những tiêu chí này đã khẳng định HĐMBHHNT là Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Quá trình thực hiện cho thấy quy chế này bộc lộ nhiều bất cập: Ngay từ tên gọi là HĐMBHHNT cũng chưa chính xác dưới góc độ khoa học pháp lý vì đối tượng của hợp đồng không phải là “ngoại thương” mà là hàng hóa.
Trong quá trình áp dụng Quy chế cũng cho thấy nhiều bất cập: việc xác định quốc tịch của pháp nhân nước ngoài cũng không dễ dàng vì quy định của các nước về vấn đề này có sự khác nhau, ví dụ: Pháp luật của Pháp quy định xác định quốc tịch của pháp nhân theo pháp luật nơi có địa chỉ thường trú của pháp nhân, thường là nơi thường trú của cơ quan điều hành, pháp luật của Anh, Mỹ quy định quốc tịch của pháp nhân được xác định theo luật của nước nơi đăng ký điều lệ hoạt động. Bên cạnh đó, việc hình thành các khu chế xuất thì tiêu chí hàng hoá là đối tượng của hợp đồng phải được di chuyển qua biên giới quốc gia cũng không còn phù hợp nữa. Hai là Luật thương mại Việt Nam năm 1997: Đây là đạo luật thương mại đầu tiên của Việt Nam đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa trong phạm vi 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quốc tế với tên gọi “hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài” (HĐMBHHVTNNN) tại điều 80 quy định: Hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài [22, Điều 80].