Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm công vụ của công chức Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực trạng thực hiện trách nhiệm công vụ của công chức tại các tỉnh Nam Trung Bộ Chương 4: Các giải pháp tăng cường thực hiện trách nhiệm công vụ của công chức tại các tỉnh Nam Trung Bộ 6 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm công vụ của công chức Các nghiên cứu về trách nhiệm công vụ của công chức liên quan nhiều ngành khoa học như pháp luật, chính sách công, quản l nhà nước, tâm lý, để phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, tác giả lựa chọn một số nghiên cứu được xem là liên quan trực tiếp đến các vấn đề của luận án nhằm đánh giá tình hình nghiên cứu ở nước ngoài, trong nước và có thể sắp xếp các nghiên cứu theo các nhóm vấn đề. Những nghiên cứu lý luận về trách nhiệm công vụ của công chức 1. Những nghiên cứu liên quan đến khái niệm công chức, công vụ và trách nhiệm công vụ của công chức Thứ nhất, các nghiên cứu liên quan đến khái niệm công chức Các nghiên cứu về quan niệm công chức của nước ngoài, có thể kể đến nghiên cứu của Christopher Balmford, MD“Public officer’s obligations etc.
for an Australia “PTY LTD”company”[210] (Dịch là: Nghĩa vụ công chức đối với công ty ở Australia) hay theo quy định Luật công vụ của Australia“Public service Act 1999, No. 147”[215] ghi nhận “Công chức” là tất cả những người được tuyển dụng để thay mặt Liên bang thực hiện những nhiệm vụ trong một bộ phận hoặc cơ quan thi hành. Theo East Asian Institute at National University of Singapore [203]“China's civil service refome: an update”(Dịch là: Cải cách công vụ của Trung Quốc: bản cập nhật) và Luật công vụ của Trung Quốc“The civil service law of the People’s Republic of China”[216], công chức được hiểu là những người công tác trong cơ quan của nhà nước, mặt trận chính hiệp, tổ chức chính trị, trừ nhân viên phục vụ. Hay khái niệm về công chức ở Pháp đó là những công chức làm việc trong hệ thống hành pháp, trong các công sở nhà nước khác và công sở tự quản; đồng thời, những công chức này có đặc điểm chung là công việc của họ có tính ổn định thường xuyên và liên tục [149].
Ngoài ra, tác giả cũng nghiên cứu quan niệm về công chức của Cộng hòa Liên bang Đức, Liên bang Nga, Vương quốc Anh cho thấy đều có những định nghĩa riêng phụ thuộc yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, thể chế. 7 luan an Các nghiên cứu về quan niệm công chức ở trong nước có thể đề cập đến một số công trình cụ thể như: Dưới góc độ giáo trình“Luật hành chính Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội;“Luật hành chính Việt Nam” của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh hay dưới góc độ các sách chuyên khảo, cụ thể như: tác giả Nguyễn Duy Phương“Hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về công chức, công vụ ở Việt Nam hiện nay”[104], Trần Anh Tuấn“Pháp luật về công vụ, công chức của Việt Nam và một số nước trên thế giới”[149] đã luận giải khái niệm về công chức của các nước trên thế giới, Việt Nam và cho rằng công chức là công dân của quốc gia, được tuyển dụng, bổ nhiệm, giao giữ công việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước (CQNN), cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN), hưởng lương từ ngân sách. Đối với tác giả Nguyễn Cảnh Hợp [65]“Thể chế công vụ”, tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải [50]“Quản lý thực thi công vụ theo định hướng kết quả”, tác giả Trần Nghị [90]“Trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước” cho rằng công chức được xác lập từ các đặc trưng về phương thức trở thành công chức, về tính chất công việc, về nơi làm việc. Ngoài ra, dưới góc độ các Luận án Tiến sĩ, có thể đề cập một số công trình của tác giả Chu Xuân Khánh“Hoàn thiện việc xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước chuyên nghiệp ở Việt Nam”[77] nghiên cứu quan niệm về công chức của một số quốc gia và khẳng định rằng công chức là một khái niệm mang tính lịch sử; tác giả Lê Như Thanh“Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghĩa vụ, quyền, trách nhiệm của công chức Việt Nam hiện nay”[123] cho rằng công chức thuộc biên chế nhà nước, phải gắn với thực thi công vụ trên cơ sở nhân danh nhà nước.
Hay tác giả Tạ Ngọc Hải“Hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước”[52] và tác giả Cao Minh Công [28]“Trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức ở nước ta hiện nay” cũng cho rằng công chức là người được giao thực hiện công vụ thường xuyên trong CQHCNN, được xếp vào ngạch hành chính, hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 8 luan an Thứ hai, các nghiên cứu liên quan đến khái niệm công vụ Các nghiên cứu nước ngoài về quan niệm công vụ, bài viết“Public Sector Modernisation: Modernising Public Employment” của tổ chức OECD [211] (Dịch là: Hiện đại hóa khu vực công: Hiện đại hóa công vụ), cho rằng cấu trúc công vụ đó là công chức khác nhau từ các loại công việc; công vụ phải được quy định bởi pháp luật và mang tính pháp lý. William Fox và Ivan H.Meyer [192],“Từ điển Hành chính công” cho rằng công vụ là công việc của công chức, với quan điểm này mới đề cập đến chủ thể của hoạt động công vụ, chưa đề cập đến chức năng, nhiệm vụ cụ thể hay đặc trưng của công vụ như thế nào. Quan niệm về công vụ ở Anh, Mỹ theo nghiên cứu của Collins“Collins English dictionary”[201] (Dịch là: Từ điển tiếng Anh Collins) cho rằng công vụ ở Anh là quản l , điều hành công việc của cơ quan công quyền và cung cấp các dịch vụ cho cộng đồng, còn công vụ ở Mỹ được xem là một số dịch vụ được thực hiện cho công chúng mà không tính phí trực tiếp.
Các nghiên cứu về quan niệm công vụ ở trong nước có thể đề cập đến một số nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Phương [104], Trần Anh Tuấn [149] đã luận giải khái niệm về công vụ là hoạt động đem lại lợi ích chung cho mọi người và gắn liền với nhà nước. Hay tác giả Phạm Hồng Thái“Pháp luật về công vụ và đạo đức công vụ”[127] cũng đã bàn về chế độ công vụ là lĩnh vực quan hệ mang tính chất chính trị - pháp lý, chịu ảnh hưởng bởi chính trị nhưng cũng độc lập tương đối với chính trị; chế độ công vụ gắn liền với công chức để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Hay tác giả Nguyễn Cảnh Hợp [65], tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải [50], tác giả Trần Nghị [90] cho rằng công vụ gắn liền với quyền lực nhà nước và được thực hiện bởi đội ngũ công chức. Ngoài ra, theo tác giả Trần Quốc Hải trong Luận án Tiến sĩ“Hoàn thiện thể chế công vụ ở nước ta hiện nay”[53] cho rằng công vụ là một loại lao động xã hội, là công việc nhà nước mang tính chất quyền lực – pháp l được thực hiện bởi CQNN hoặc những người được ủy quyền, điều này gợi mở cho tác giả luận án hướng nghiên cứu về mô hình việc làm để kết hợp thực hiện hợp đồng công vụ trong vấn đề nghiên cứu của bản thân.
9 luan an Thứ ba, các nghiên cứu liên quan đến khái niệm trách nhiệm công vụ Các nghiên cứu về quan niệm trách nhiệm công vụ của công chức ở nước ngoài được các tác giả nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, cụ thể: Theo tác giả Considine, Mark,“The End of the Line?Accountable Governance in the Age of Networks, Partnerships, and joined-Up Services”[209] (Dịch là: trách nhiệm quản trị trong thời đại công nghệ, hợp tác và các dịch vụ hợp nhất), sử dụng thuật ngữ “Accountability” để diễn đạt trách nhiệm là nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng những lợi ích hợp pháp của chủ thể khác và nghĩa vụ này bị ảnh hưởng bởi các quyết định, chương trình, sự can thiệp. Hay theo O’Connell“Program Accountability as an Emergent Property: The Role of Stakeholders in a Program’s Field”[212] (Dịch là: Trách nhiệm như là sự cần thiết: Vai trò của các bên liên quan trong chương trình, chính sách) sử dụng thuật ngữ “Accountability” dùng để chỉ trách nhiệm phải thực hiện các công việc theo các yêu cầu của công chúng. Cũng sử dụng thuật ngữ “Accountability” nhưng tác giả Koppell, Jonathan GS, Pathologies of Accountability: ICANN and the Challenge of “Multiple Accountabilities Disorder” (Dịch là: Các loại hình trách nhiệm) [206], tác giả Mark Bovens,“Public Acountability: A framework for the analysis and assessment of accountability arrangements in the public domain”[197] (Dịch là: Trách nhiệm công: Khuôn khổ để phân tích và đánh giá các thỏa thuận trách nhiệm trong lĩnh vực công) cho rằng trách nhiệm được hiểu là nghĩa vụ giải thích và biện minh cho những hoạt động, đó là trách nhiệm giải trình. Theo các tác giả Jossey - Bass, Howard Gardner“Responsibility at work” [195] (Dịch là: Trách nhiệm trong công việc) lại sử dụng “Responsibility” để định nghĩa về trách nhiệm đó là trách nhiệm gắn kết với tính tự nguyện, tính tích cực của cá nhân khi thực hiện công việc.
Cũng sử dụng “Responsibility”, tác giả W.Bradley Wendel“Professional Responsibility”[218] (Dịch là: Trách nhiệm nghề nghiệp) đưa ra quan điểm trách nhiệm nghề nghiệp là nghĩa vụ, bổn phận thực thi công vụ trên cơ sở phán quyết và lựa chọn của cá nhân; hay theo tác giả Agcas“Civil Service administrators” [194], đó là nhiệm vụ khác nhau tùy theo vị trí làm việc và mức độ trách nhiệm của cá nhân. 10 luan an Đồng thời, cũng có một số tác giả trong công trình nghiên cứu về trách nhiệm sử dụng thuật ngữ “Liability” cụ thể như: nhóm tác giả R.Morris“Liability and Responsibility: Essay in law and morals”[204] (Dịch là: Trách nhiệm trong luật và đạo đức) hay Brill“Differences between Responsibility Liability”[199] (Dịch là: Sự phân biệt giữa các từ trách nhiệm) cho rằng thuật ngữ “Liability” như là trách nhiệm pháp l đối với hậu quả hay hành vi của một người được thi hành bằng các biện pháp như dân sự, hình sự trong trường hợp gây ra thiệt hại. Bên cạnh đó, cũng đã nghiên cứu so sánh các nước Australia, Hà Lan, New Zealand, Vương quốc Anh để chỉ ra rằng quan niệm về trách nhiệm công vụ của các nước là khác nhau do các quy định pháp lý, sự đáp ứng và hài lòng của công dân.