CHƯƠNG I - NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁT HIỆN THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM 1. Khái quát về tham nhũng 1. Khái niệm về tham nhũng Thuật ngữ tham nhũng (corruption) bắt nguồn từ tiếng La-tinh là corrupfus, có nghĩa là lạm dụng, phá hoại hay vi phạm. Từ điển Oxford định nghĩa tham nhũng là sự bóp méo hay phá hoại tính liêm chính trong thực thi công vụ băng cách hối lội hoặc đối xử thiên vị.
Trong Từ điển Merriam Webster, tham nhũng là sự khuyến khích điều xấu băng những cách thức sai trái hoặc phi pháp. Theo Từ điển Tiếng Việt thì tham nhũng là lợi dụng quyền hành dé tham 6, nhũng nhiễu dân. Như vậy, xét chung, tham nhũng là những hành vi trái phép hoặc bat hợp pháp. Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (United Nations Convention against Corruption - UNCAC) không đưa ra định nghĩa về tham nhũng nhưng xác định một tập hợp những hành vi được coi là tham nhũng.
Công ước Luật dân sự về chống tham nhũng của Hội đồng Châu Âu năm 1997 định nghĩa: Tham nhũng là việc đòi hỏi, gợi ý, đưa ra hoặc trực tiếp hay gián tiếp nhận của hối lộ hoặc lợi thế bất chính khác, hay triển vọng về của hối lộ hay lợi thế bất chính đó, làm ảnh hưởng đến sự thực hiện đúng đắn nhiệm vụ hoặc công việc của người nhận hối lộ hoặc nhận lợi thế bất chính hoặc triển vọng của người đưa hối lộ hay lợi thế bất chính đó[37]. Luật PCTN năm 2018 của Việt Nam định nghĩa tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi, trong đó: - Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bau cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; Si quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vi thuộc Công an nhân dân; Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tô chức; Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. - Vụ lợi là việc người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng.
Từ những phân tích trên, có thé thấy đặc điểm nổi bật của tham nhũng là hành vi lợi dụng, lạm dụng quyền hạn và vị thế để thu lợi bất chính. Đối tượng hưởng lợi không chỉ là người trực tiếp thực hiện hành vi mà bao gồm cả những chủ thể khác như người thân, đồng nghiệp, bạn bè. Tham những có thể diễn ra cả ở khu vực công và tư, mặc dù thường được chú ý hơn ở khu vực công[38]. Về bản chất, tham nhũng là hệ quả của sự tha hoá về đạo đức của những chủ thé nam giữ quyền lực.
Sự tha hoá đó được xem như là một van dé mang tính quy luật: “Quyên lực có xu hướng dẫn tới sự tha hoá, đổi bại, quyền lực độc đoán sẽ dẫn tới sự tha hoá, đồi bại tuyệt đối” [38]. Từ cách tiếp cận đó, có thê thấy tham nhũng là một “căn bệnh” chung, mang tính cố hữu của mọi nhà nước, bat kể thuộc thể chế chính trị nao, bởi nhà nước là một thiết chế quyền lực công [38]. Cùng với quan liêu, căn bệnh tham nhũng xuất hiện ngay từ khi nhà nước ra đời và sẽ tồn tại cùng với nhà nước cho tới khi nó tiêu vong [38]. Những nỗ lực PCTN, cho dù quyết liệt và bền bỉ tới đâu cũng chỉ có thé kiềm chế, giảm thiểu chứ không thé xóa bỏ triệt dé tình trạng tham nhũng trong bộ máy nhà nước[38].
Về khía cạnh này, theo một nhà khoa học được giải thưởng Nobel kinh tế năm 1992 đã từng phát biểu: “Chúng ta chỉ có thé hoàn toàn triệt tiêu tham nhũng khi xóa bỏ nha nước mà thôi”[35]. Tham những là một hiện tượng tất yêu của xã hội có sự phân chia giai cấp, có nhà nước; bởi tham nhũng luôn gắn với quyền lực nhà nước; một số người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước đã lợi dụng quyền lực nhà nước dé nhằm thu lợi ich bất chính về cho mình, cho gia đình, cho người thân của mình. Nguyên nhân của tham những Tham nhũng là van đề mang tính toàn cầu, đồng thời chứa đựng những yếu tố đặc thù gắn với từng quốc gia. Về cơ bản, mỗi quốc gia có những nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng riêng.
Tuy nhiên, dựa trên cơ sở xem xét nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng của các nước trên thế giới, có thể thấy, tuy có những đặc điểm riêng, song cũng có một số nguyên nhân, điều kiện mang tính chất tương đồng, đó là: Thứ nhất, xuất phát từ bản chất của tham nhũng, tham nhũng - một hiện tượng tất yêu của xã hội có sự phân chia giai cấp, có nhà nước; bởi tham nhũng luôn gắn với quyền lực nhà nước. Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác — Lénin cho rằng, nguồn gốc sâu xa của tệ nạn tham nhũng là sự gặp nhau của hai nhân tố: quyền lực công và lòng tham cá nhân. Quyền lực của Nhà nước khi được trao cho những con người cụ thể, những người đại diện cho Nhà nước thực hiện quyền lực công, nếu không có cơ chế kiểm soát, chế ước dẫn tới sự lợi dụng, lạm dụng quyền lực phục vụ nhu cầu cá nhân. Đó chính là cơ sở nảy sinh tham nhũng, hay nói cách khác, tham nhũng còn được coi là “sản pham của sự tha hóa quyên lực”[36].
Thứ hai, tham nhũng là hệ qua tất yếu của nền kinh tế kém phát triển, quản lý kinh tế, xã hội lỏng lẻo, yêu kém, tại đó một phần quyền lực chính trị biến thành quyền lực kinh tế. Thực tế cho thấy, ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, quan lý công khai, minh bach thì tham nhũng xảy ra ít hơn. Ngược lại, ở các quốc gia, vùng lãnh thổ dang phát triển, trình độ quản lý và dân trí chưa cao, thì ở đó tham nhũng thường rất phức tạp. Thứ ba, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện và đồng bộ cũng là một nguyên nhân và điều kiện của tham nhũng.
Cơ chế, chính sách, pháp luật chưa đầy đủ, thiếu nhất quán, có nhiều “kẽ hở” tạo cơ hội cho những người có chức vụ, quyền hạn có thé “lách luật” trục lợi, làm giàu bat chính. Thứ tu, phẩm chất chính trị, đạo đức của một số người có chức, có quyền bị suy thoái, đặc biệt là suy thoái về đạo đức, lối sống: họ sẵn sảng bỏ qua lợi ích chung, lợi ích tập thé dé trục lợi, làm giàu cho bản thân, gia đình. Thứ năm, trình độ dân trí thấp, ý thức pháp luật của người dân chưa cao là môi trường tạo điều kiện cho những người có chức vụ, quyền hạn dễ những nhiễu, hạch sách, vòi vĩnh người dân, doanh nghiệp. Đặc biệt trong nhóm quan hệ này, có không ít người dân, doanh nghiệp do muốn được việc đã chủ động chạy chọt, lo lót, “bôi trơn”.
góp phần cộng hưởng làm cho tình trạng tham nhũng trở nên tệ hại hơn. Thứ sáu, bộ máy hành chính nhà nước công kénh, nhiều thủ tục hành chính phiền hà, nặng nè, bat hợp lý đã tạo điều kiện cho một số cán bộ, công chức nhà nước sách nhiễu, đòi hối lộ. Một số nước tồn tại cơ chế “xin — cho” đã là “mảnh đất màu mỡ” dé tham nhũng có cơ hội phát triển. Thứ bảy, ché độ đãi ngộ chưa thỏa đáng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong khu vực công.
Một khi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động chưa thé bảo đảm cuộc sống bằng tiền lương của mình thì khó tránh việc họ sẽ tìm cách dé kiếm thêm thu nhập từ chính công việc, chức vụ mà nhà nước giao cho mình, kề cả tham nhũng. Hậu quả của tham những Tham nhũng là trở lực lớn đối với sự phát triển của bất kỳ quốc gia nào. Ở Việt Nam, tham nhũng tao ra rao can rất lớn đối với quá trình đôi mới, phát 10 triển đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thứ nhất, hậu quả trên phương diện quản lý nhà nước: Tham nhũng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền pháp chế, khiến người dân mat lòng tin, dan đến hiện tượng chống đối các cơ quan và công chức thực thi nhiệm vụ.
Điều này gây ra hậu quả là việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật của nhà nước trên các lĩnh vực đều có thé gặp khó khăn, trở ngại do không được người dân, doanh nghiệp và các chủ thé khác ủng hộ. Không chỉ vậy, tham nhũng còn dẫn đến các xung đột ngay trong hệ thống các cơ quan nhà nước, do sự thiếu công khai, minh bạch, vụ lợi trong quá trình ra quyết định chính sách. Hậu quả của việc này là một SỐ CƠ quan nhà nước có thể bị tê liệt hoặc hoạt động kém hiệu quả, kéo theo những hệ lụy tiêu cực về quản lý xã hội. Thứ hai, hậu qua về mặt văn hóa, xã hội.
Tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đôi, đảo lộn những chuẩn mực dao đức xã hội, tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Té nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gây tac hại rất lớn, làm tôn hại thanh danh của đảng cầm quyền, gây bat bình và giảm lòng tin của nhân dân đối với chính đảng đó và với nhà nước. Tham nhũng cũng dẫn đến bat bình đăng, chia rẽ và xung đột xã hội. Trong xã hội có sự hoành hành của tham nhũng, khoảng cách giữa các nhóm giàu, nghèo thường tăng lên rất nhanh, góp phần phân chia dân chúng trong xã hội nói chung, các tầng lớp trong xã hội nói riêng thành hai nhóm, trong đó một nhóm chủ yếu chỉ hưởng thụ mà không phải lao động, còn nhóm kia phải vật lộn làm việc dé kiếm sống, từ đó thối bùng lên lòng dé ky, sự nghỉ ngại, tính ghen ghét và tu tưởng thù địch giữa các nhóm.