Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở NƢỚC TA 1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng chính là vấn đề chính quyền. Trong suốt hành trình cách mạng giải phóng dân tộc, từ khi nhen nhóm ngọn lửa giành độc lập cho đến khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết rất nhiều vấn đề về đường lối, chiến lược của cách mạng xoay quanh vấn đề giành chính quyền và quan trọng hơn cả là giữ chính quyền. Nhưng nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền thì vấn đề cơ bản của một chính quyền là ở chỗ chính quyền đó thuộc về ai, phục vụ cho quyền lợi của ai.
Vì vậy, Người cũng luôn trăn trở, tìm kiếm một mô hình nhà nước tiến bộ cho đất nước, thông qua tiếp thu tinh hoa tư tưởng văn hóa của phương Đông cũng như học tập những mô hình nhà nước tư sản hiện đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước bao gồm nhiều nội dung, trong đó chứa đựng cả hệ thống những quan điểm về xây dựng chính quyền và đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền các cấp. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân trong sạch, vững mạnh, hiệu quả từ ở cấp hành chính cơ sở thấp nhất. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 63/1945 ngày 23 tháng 11 năm 1945 về Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính ở nông thôn.
Có thể nói đây cũng chính là văn bản pháp lý đầu tiên về tổ chức chính quyền ở nông thôn. Ngay tại Điều 1 Sắc lệnh đã chỉ rõ: 8 z Để thực hiện chính quyền nhân dân địa phương trong nước Việt Nam, sẽ đặt hai thứ cơ quan: Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính. Hội đồng nhân dân do dân bầu ra theo lối phổ thông và trực tiếp đầu phiếu là cơ quan thay mặt cho dân. Ủy ban hành chính do các Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan hành chính vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ.
Cấp xã là đơn vị chính quyền cơ sở được xác lập trước tiên (thị trấn và phường là đơn vị hành chính cơ sở được thiết lập sau này, thị trấn từ năm 1951 và phường từ năm 1976). Thời kỳ tiền khởi nghĩa và mới khởi nghĩa, qui mô xã vẫn theo các xã cũ, còn cơ quan chính quyền xã là một ủy ban nhân nhân cách mạng, vừa đại diện cho dân vừa đại diện cho chính quyền nhà nước cấp trên. Từ Sắc lệnh số 63, chính quyền xã được tổ chức như hiện nay. Về quy mô, không theo các làng xã trước đây mà bao quát nhiều xã; về bộ máy chính quyền bao gồm hai loại cơ quan là Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính.
Các làng xã cũ nằm trong xã mới không còn là cấp chính quyền mà chỉ là các đơn vị dân cư. Trong tư tưởng của Người, mô hình nhà nước Việt Nam sau thắng lợi của cách mạng Việt Nam phải là một Nhà nước kiểu mới, Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Sau khi nước ta giành được độc lập, Người khẳng định: Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [43, tr. 9 z Đó là điểm khác nhau về bản chất giữa nhà nước của nhân dân với các nhà nước của giai cấp bóc lột đã từng tồn tại trong lịch sử. Tuy nhiên không chỉ dừng lại ở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn có được một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo được việc thực hiện quyền lực của nhân dân bằng việc xây dựng được một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ.
Khi cách mạng đã thành công, chính quyền thuộc về tay nhân dân và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thì để có thể tiến tới một Nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, có hiệu lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành một đội ngũ cán bộ, viên chức nhà nước có trình độ văn hóa, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành chính và nhất là phải có đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, một tiêu chuẩn cơ bản của người cầm cân nảy mực cho công lý. Cán bộ nhà nước phải biết quản lý nhà nước. Từ người nô lệ thành người làm chủ, nước ta thiếu rất nhiều nhân tài quản lý. Người biết rõ điều này, do đó quyết định đẩy mạnh việc đào tạo: mở Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, ký sắc lệnh thành lập Khoa Pháp lý học tại trường Đại học Việt Nam.
Một mặt, mạnh dạn sử dụng những viên chức, quan lại đã được đào tạo về nghiệp vụ và kĩ thuật hành chính dưới chế độ cũ; mặt khác, Người đăng báo "tìm người tài đức", kêu gọi ai có tài hãy ra giúp nước nhà. Để đảm bảo công bằng và dân chủ trong vấn đề tuyển dụng cán bộ nhà nước, trên cơ sở những quan điểm, tư tưởng, nguyên tắc về một nền công vụ, công chức kiểu mới thể hiện trong Hiến pháp năm 1946; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 76 ngày 20 tháng 5 năm 1950, ban hành Quy chế công chức Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong đó xác định: Công chức Việt Nam là những công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân dưới sự lãnh đạo tối cao của Chính phủ. Điều 1 của 10 z Quy chế này quy định: "Công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước". Như vậy, công chức theo quy định này là quan niệm công chức theo nghĩa hẹp, chỉ coi những người làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước mới là công chức.
Đây là quan niệm phù hợp với quan niệm của nhiều quốc gia trong thế giới đương đại. Với quan niệm này có thể nhận thấy những người phục vụ trong bộ máy hành chính nhà nước được gọi là công chức phải thỏa mãn các điều kiện, yêu cầu như: - Là công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; - Do chính quyền nhân dân tuyển dụng; Quy định này có ý nghĩa chính trị - xã hội, góp phần khẳng định địa vị chính trị - pháp lý của người công chức. Đồng thời cũng khẳng định công chức phải là người có quan điểm chính trị vững vàng, sẵn lòng phụng sự sự nghiệp cách mạng của nhân dân, của chính quyền nhân dân và được tuyển chọn theo những tiêu chí nhất định. - Giữ chức vụ thường xuyên; Đây là quy định thể hiện tính thường xuyên, liên tục của công vụ, của các công việc của bộ máy hành chính nhà nước mà công chức đảm nhiệm, mặt khác cũng phản ánh sự bảo đảm của nhà nước đối với chức nghiệp của công chức.
Đồng thời qua đó cũng nhận thấy rằng hoạt động của công chức có tính chuyên nghiệp. Đây cũng là một đặc trưng rất cơ bản của công chức để phân biệt với các đối tượng khác phục vụ trong các cơ quan, tổ chức của Nhà nước. - Công chức chỉ bao gồm những người giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan của Chính phủ; Quan niệm cũng giống như quan niệm của một số nước, chỉ coi những người giữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan hành chính nhà nước là 11 z công chức. Quy định pháp lý này là cơ sở hình thành một quan niệm hẹp về công chức chỉ gồm những người làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước, công chức không bao gồm những người làm việc tại các cơ quan khác của nhà nước.
Có thể nói đây là quan niệm đầu tiên ở nước ta về công chức; nhưng đồng thời cũng lại là quan niệm rất hiện đại về một nền công vụ, chế độ công chức có tính chuyên nghiệp và mang tính phục vụ. Khác với những cán bộ của các cơ quan dân cử, làm việc theo nhiệm kì bầu cử, công chức theo chế độ chức nghiệp, vì vậy cần phải qua một kì thi tuyển để bổ nhiệm vào các ngạch, bậc hành chính. Nội dung thi tuyển theo yêu cầu của Quy chế công chức nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khá toàn diện, bao gồm sáu môn thi: Môn Chính trị (đại cương về Hiến pháp và cách tổ chức nhà nước của những nước lớn trên thế giới); môn Kinh tế (so sánh kinh tế tư bản và kinh tế xã hội chủ nghĩa, kinh tế Việt Nam trước và sau cách mạng: nông nghiệp, thương nghiệp, công kỹ nghệ.); môn Pháp luật (về Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chế độ thuế khóa, thể lệ ngân sách,.); môn Địa lý (gồm địa lý tự nhiên và nhân văn của Việt Nam và một số nước lân cận: Miến Điện, Lào, Miên, Xiêm, Trung Hoa, Nhật Bản, Ấn Độ); môn Lịch sử (lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, sự xâm lăng của thực dân Pháp, các phong trào xã hội, tư tưởng, học thuật đầu thế kỉ XX. Sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cuộc kháng chiến toàn dân,.) và môn Ngoại ngữ (tự nguyện: Anh, Trung hoặc Pháp).
Trong điều kiện của cuộc kháng chiến chống Pháp, yêu cầu về trình độ văn hóa - pháp luật đối với đội ngũ công chức lúc bấy giờ có thể nói là cao. Nó đòi hỏi người dự tuyển phải qua một lớp huấn luyện để bổ túc học vấn. Tùy theo kết quả và năng lực, trình độ, phẩm chất của mỗi người mà sắp xếp vào ngạch bậc và bổ dụng theo thứ tự trên dưới. Điều đó đã thể hiện rõ 12 z tầm nhìn xa, tính chính quy, hiện đại, tinh thần công bằng, dân chủ,.
của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng trong vấn đề cán bộ, đặc biệt là với cán bộ quản lý nhà nước, điều quan tâm thường xuyên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là phẩm chất đạo đức và tinh thần phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, bởi thiếu điều cơ bản này thì dù có năng lực mấy cũng không dùng được.