CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC 1. Người đứng đầu nhà nước và trách nhiệm của người đứng đầu nhà nước trong các hình thức chính thể 1. Khái niệm người đứng đầu nhà nước và trách nhiệm của người đứng đầu nhà nước Đối với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới đều có một thiết chế, chức danh đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước thực hiện các công tác đối nội, đối ngoại. Vị trí này được gọi chung là nguyên thủ quốc gia (NTQG).
Trong tiếng Anh thuật ngữ phổ biến được sử dụng chung để chỉ vị trí này là “Head of State”. Theo từ điển Oxford thuật ngữ “Head of State” được hiểu là trưởng đại diện công cao nhất của một quốc gia như Tổng thống hoặc Quốc vương, người có thể đứng đầu Chính phủ. Hay là người đại diện chung cho sự thống nhất quốc gia và tính hợp pháp của một 1 nhà nước có chủ quyền. 2 Theo nghĩa Hán – Việt, nguyên thủ là người đứng đầu.
NTQG cũng có nghĩa là người đứng đầu của một quốc gia. Cách hiểu này cũng tương tự với định nghĩa có trong từ điển luật học về NTQG theo đó “nguyên thủ quốc gia là người đứng đầu 3 nhà nước để đại diện cho nhà nước ấy về cả đối nội và đối ngoại” .TS luật học Nguyễn Đăng Dung định nghĩa về NTQG trong quyển Tìm hiểu pháp luật – Luật Hiến pháp so sánh NTQG là “người đứng đầu nhà nước, có quyền thay mặt nhà nước về mặt đối nội và đối ngoại”. Như vậy tóm lại, người đứng đầu nhà nước cũng chính là nguyên thủ quốc gia đại diện cho nhà nước về đối nội và đối ngoại. Trong tiếng Anh, có hai thuật ngữ cùng được hiểu theo nghĩa trách nhiệm đó là: “responsibility” và “accountability”.
Hai thuật ngữ này thường được dùng để thay thế cho nhau nhưng vẫn có một sự khác biệt cơ bản giữa hai thuật ngữ này. Trách nhiệm với nghĩa là “responsibility” thường được hiểu là việc phải làm như là bổn phận, nghĩa vụ. Còn “accountability” có nghĩa rộng hơn “responsibility”, không chỉ là những việc phải làm mà còn bao gồm việc đứng ra nhận và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện những việc đó. “Accountability”có thể được hiểu là tổng hợp của trách 1Tham khảo tại trang https://en.org/wiki/Head_of_state, truy cập ngày 26/03/2021.
2 Hoàng phê chủ biên (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr. 3 Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, Nxb Từ điển bách khoa – Nxb Tư pháp, tr. Ở Việt Nam, một số tác giả tiếp cận thuật ngữ trách nhiệm theo nghĩa “trách nhiệm là sự thực hiện bổn phận, nghĩa vụ của chủ thể đối với người khác, với xã hội một cách tự giác”. Một số tác giả khác lại cho rằng trách nhiệm có nghĩa là “chịu trách nhiệm”, với hàm ý là phải gánh chịu một hậu quả bất lợi nào đó: “trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà người đứng đầu phải gánh chịu khi không thực hiện hoặc thực 5 hiện không đúng quyền, nghĩa vụ được giao”.
Có thể thấy chỉ với một thuật ngữ trách nhiệm nhưng lại có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Sẽ hợp lý hơn nếu nhìn nhận thuật ngữ trách nhiệm theo hướng kết hợp cả hai cách hiểu trên đây lại với nhau. Trách nhiệm là những việc nên làm, phải làm, được làm với kết quả tốt, nếu kết quả không tốt sẽ phải gánh chịu phần hậu quả bất 6 lợi tương xứng vơi tính chất, mức độ của việc không hoàn thành bổn phận, nghĩa vụ. Trên cơ sở những phân tích về thuật ngữ trách nhiệm và thuật ngữ NTQG có thể hiểu “trách nhiệm của nguyên thủ quốc gia là những việc mà người đứng đầu nhà nước nên làm, phải làm, được làm với kết quả tốt nhất.
Nếu kết quả không tốt, người đứng đầu nhà nước sẽ phải gánh chịu hậu quả bất lợi”. Trên cơ sở khái niệm này, có thể thấy trách nhiệm của NTQG được cấu thành bởi ba yếu tố cơ bản đó là: quyền hạn, nghĩa vụ và hệ quả của việc thực hiện các quyền hạn và nghĩa vụ đó (tính chịu trách nhiệm). Ở đây cũng cần phải lưu ý, có một số người sẽ không gọi là trách nhiệm mà dùng thuật ngữ “thẩm quyền”, tuy nhiên cũng cần phải hiểu thẩm quyền chỉ tức là quyền hạn và nghĩa vụ, nó không bao hàm vấn đề chịu trách nhiệm. Do đó cần phải có sự phân biệt giữa thuật ngữ thẩm quyền và thuật ngữ trách nhiệm, bởi lẽ trách nhiệm không chỉ bao gồm quyền hạn và nghĩa vụ mà còn bao gồm cả về vấn đề gánh chịu hậu quả bất lợi khi có sai phạm.
Tùy thuộc vào từng hình thức chính thể (HTCT) mà tên gọi của NTQG cũng có sự khác nhau. Ở những quốc gia theo chính thể quân chủ, NTQG thường được gọi là: nhà Vua, Hoàng đế, Nữ hoàng hay Quốc trưởng…. Ở những quốc gia theo chính thể 4 Bùi Thị Ngọc Mai (2015), “Thuật ngữ “trách nhiệm” và thực tiễn pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17 (297), tr. 5 Nguyễn Minh Phú (2018), “Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8 (360), tr.
6 Bùi Thị Ngọc Mai (2016), Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, tr. 9 cộng hòa trong các nhà nước dân chủ tư sản, NTQG thường được gọi là Tổng thống… Đối với các quốc gia theo chính thể cộng hòa Xô viết hay cộng hòa dân chủ nhân dân, cộng hòa xã hội chủ nghĩa NTQG thường được gọi là Chủ tịch nước, Đoàn chủ tịch Xô viết tối cao hoặc Hội đồng Nhà nước (HĐNN)… 1. Người đứng đầu nhà nước trong chính thể quân chủ HTCT là phương thức tổ chức và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước Trung ương. Nói cách khác, HTCT là phương pháp thành lập và mối quan hệ giữa người 7 đứng đầu nhà nước, Nghị viện và Chính phủ.
HTCT gồm có hai dạng cơ bản là HTCT quân chủ và HTCT cộng hòa. Nếu quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ hoặc một phần vào trong tay của người đứng đầu nhà nước như nhà Vua, Hoàng đế hay Quốc vương… và được chuyển giao theo nguyên tắc thừa kế, thời hạn nắm giữ quyền lực là trọn đời thì đó là chính thể quân chủ. HTCT quân chủ được chia thành hai hình thức là quân chủ chuyên chế (quân chủ tuyệt đối) và quân chủ hạn chế (quân chủ lập hiến). Trong hình thức quân chủ hạn chế lại được chia thành hai hình thức là quân chủ nhị nguyên (quân chủ nhị hợp) và quân chủ đại nghị.
Người đứng đầu nhà nước trong chính thể quân chủ chuyên chế (quân chủ tuyệt đối) Trong chính thể này, nhà Vua là người có quyền lực tối cao trong toàn bộ vương quốc, nắm trong tay toàn bộ quyền lực nhà nước và không bị giới hạn bởi bất cứ điều gì. Hiến pháp ở các vương quốc này vẫn có các quy định về quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp cùng với các cơ quan đảm trách nhưng tất cả đều đóng vai trò xoay quanh và phục vụ cho sự cai trị của nhà Vua. Trong chính thể này nhà Vua có các nhiệm vụ, quyền hạn như sau: Trong lĩnh vực lập pháp, nhà Vua là người nắm toàn bộ quyền lập pháp trong tay. Tuy nhiên nhà Vua không tự mình xây dựng nên các đạo luật mà sẽ thành lập nên các cơ quan đóng vai trò như cơ quan lập pháp ở các quốc gia (Hội đồng lập pháp của Vương quốc Brunei, Hội đồng tư vấn ở Ả-rập Xê-út).
Nhà Vua có toàn quyền bổ nhiệm hay cách chức các thành viên của Hội đồng theo sự xét đoán của mình. Một dự luật được xây dựng và hoàn thiện ở Hội đồng sẽ được trình lên cho nhà Vua ban hành. Nhà Vua là người quyết định cuối cùng trong việc ban hành cũng như nội dung của dự luật. Ngoài ra nhà Vua còn là người có thẩm quyền tuyên bố tình trạng khẩn 7 Vũ Hồng Anh (1998), “Hình thức chính thể của các nước trên thế giới”, Tạp chí Luật học, số 4, tr.
10 cấp trên khắp vương quốc đồng thời có toàn quyền ban hành các sắc lệnh áp dụng cùng với các chế tài trong tình trạng khẩn cấp này. Trong lĩnh vực hành pháp, ngoài nắm quyền lập pháp, nhà Vua còn là người đứng đầu Chính phủ, nắm toàn bộ quyền hành pháp trong tay kể cả quyền chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang. Nhà Vua có toàn quyền trong việc bổ nhiệm các Bộ trưởng hoặc bãi nhiệm họ theo ý muốn riêng của mình. Các nhân viên Chính phủ chỉ đóng vai trò là người tham mưu và giúp việc cho nhà Vua trong việc điều hành, quản lý đất nước.
Nếu muốn nhà Vua cũng có thể tự mình quyết định mọi vấn đề mà không cần xem xét đến ý kiến của các thành viên Chính phủ. Trong lĩnh vực tư pháp và một số lĩnh vực khác, nhà Vua có quyền thành lập nên các Tòa án hoặc chỉ định một Tòa án bất kỳ có thẩm quyền xét xử những vụ việc cụ thể. Quyết định cơ cấu, tổ chức cũng như bổ nhiệm các chức danh cao cấp trong hệ thống các cơ quan tư pháp của vương quốc. Đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp nhà Vua có toàn quyền chỉ định bất kỳ một Tòa án nào để xét xử các hành vi vi phạm các sắc lệnh do mình ban hành.
Mặc dù quyền xét xử của các cơ quan tư pháp này là độc lập nhưng thẩm quyền quyết định cuối cùng lại thuộc về nhà Vua. Tính chịu trách nhiệm, không những nắm trong tay toàn bộ quyền lực nhà nước mà nhà Vua còn được miễn trừ mọi loại trách nhiệm. Ví dụ như Điều 84B Hiến pháp năm 1959 (sửa đổi, bổ sung năm 2004) của Brunei quy định:“hành vi của Quốc vương không bao giờ bị coi là sai cho dù làm với tư cách cá nhân hay tư cách Quốc vương”. Do đó không một chủ thể nào ở vương quốc có quyền phán xét tính đúng sai đối với các hành vi hay quyết định của nhà Vua.
Không những vậy ngay cả những người được sự ủy nhiệm của nhà Vua để làm hoặc không làm một điều gì đó cũng không bao giờ phải chịu bất kỳ một trách nhiệm nào đối với việc làm của mình trong phạm 8 vi được ủy quyền. Mô hình này chủ yếu tồn tại ở các nhà nước vào thời kỳ chiếm hữu nô lệ và thời kỳ phong kiến. Tuy nhiên hiện nay mô hình này đã không còn phù hợp với một xã hội dân chủ.