Chương 1: Những van đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hai do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Chương 2: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự 2015. Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật về bôi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo pháp luật Việt Nam, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TRÁCH NHIEM BOI THUONG THIET HAI DO NGUON NGUY HIEM CAO DO GAY RA 1.
Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hai do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 1. Khái niệm và đặc điểm của nguôn nguy hiểm cao độ Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, những thành tựu mới của nền công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ giới hoá đã làm cho thế giới ngày càng phát triển văn minh, hiện đại. Đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội là các sáng kiến, phát minh những sản pham tự động hoá phục vu chất lượng đời sống con người ngày càng cao như: máy móc, ô tô, phương tiện giao thông khác, nhà xưởng. Bên cạnh những tính năng, lợi ích mà nền kinh tế hiện đại hoá mang lại cũng kéo theo sự gia tăng các tai nạn mang tính khách quan, nhiều khi nằm ngoài sự chi phối, điều khiển của con người, de doa tới sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản.
của các chủ thé trong xa hội. Trong quá trình vận hành, sử dụng, bao quan các loại thiết bị máy móc, phương tiện giao thông, hệ thống tải điện. mặc dù con người đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết, tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình hoạt động của những tài sản này, tuy nhiên trong nhiều trường hợp, bản thân các loại tài sản này lại có thé tự gây ra những thiệt hại rất lớn cho con người và môi trường xung quanh. Chính vì vậy, trong khoa học pháp lý gọi những tài sản này là “nguôn nguy hiểm cao độ ”.
Khái niệm nguôn nguy hiểm cao độ BLDS 2015 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa đưa ra khái niệm thế nào là nguồn nguy hiểm cao độ mà mới chỉ dừng lại ở quy định mang tính chất liệt kê các loại nguồn nguy hiểm cao độ. Theo đó, khoản 1, Điều 601 BLDS 2015 liệt kê các loại nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm: Phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nô, chất cháy. Quy định này đã kế thừa toàn bộ quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2005 cũng như hướng dan tại Nghị quyết số 03/2006/NQ — HĐTP ngày 08/07/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về BTTH ngoài hợp đồng trước đó. Trong khoa học pháp lý, các tài liệu nghiên cứu của nhiều nhà Luật học đã đưa ra định nghĩa về khái niệm “Nguồn nguy hiểm cao độ”: Trong công trình nghiên cứu Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Vũ Minh Tiến, tác giả đã xây dựng khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ theo hướng: Nguồn nguy hiểm cao độ là những đối tượng mà khi con người sử dụng, bảo quản, cất giữ, trông coi thì luôn tiềm ân nguy cơ rủi ro cao độ đối với tài sản, sức khoẻ và tính mạng của con người [29, tr.
Như vậy, theo quan điểm các giả trên, nguồn nguy hiểm cao độ là những đối tượng mà khi con người thực hiện các hoạt động như sử dụng, bảo quản, cất giữ, trông coi sẽ có thé gây rủi ro đối với các đối tượng khác. Tuy nhiên, quan điểm này của tác giả vẫn còn nội dung cần làm sáng tỏ đó là trường hợp những đối tượng này tự gây thiệt hại thì thể xác định đó là nguồn nguy hiểm cao độ hay không. Vấn đề này cần được làm rõ trong khái niệm “nguồn nguy hiểm cao độ” của tác giả. Hay trong công trình nghiên cứu Luận án tiến sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thanh Hồng, tác giả xây dựng khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ trên cơ sở liệt kê bao gồm: Các động vật và bất động vật, trong quá trình con người trông giữ, vận hành thì có thé gây nguy hiểm tới tính mang, tài sản, sức khỏe của con người và xung quanh [9].
Như vậy, tác giả xây dựng khái niệm nguôn nguy hiểm cao độ theo hướng liệt kê nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm động vật hoặc bất động vật và căn cứ phát sinh nguồn nguy hiểm cao độ là khi có sự trông giữ, vận hành, cho chúng hoạt động sẽ gây nguy hiểm với tính mạng, sức khoẻ con người và các thiệt hại khác về tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Có thé thay, ở mỗi góc độ, mỗi cách nhìn nhận thì quan điểm về khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ cũng có những cách hiểu khác nhau. Có thể hiểu một cách khái quát: “Nguồn nguy hiểm cao độ là những vật chất nhất định do pháp luật quy định luôn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại, mà con người không thể kiểm soát được một cách tuyệt doi”. Đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ Ban thân tên gọi “nguồn nguy hiểm cao độ” đã nêu lên những đặc trưng cơ bản của nguồn nguy hiểm cao độ đó là sự tiềm ân một nguy cơ gây thiệt hại cho con người và môi trường xung quanh.
Thứ nhất, nguồn nguy hiểm cao độ luôn tiềm an khả năng gây thiệt hại bất ngờ cho con người và môi trường xung quanh mà không thê lường trước hay ngăn chặn trước khi thiệt hại xảy ra. Mặc dù có thể do con người vận hành, sử dụng và đảm bảo áp dụng mọi biện pháp an toàn cần thiết, song cũng không thé lường trước được việc gây ra thiệt hai của nguồn nguy hiểm cao độ. Ví dụ: xe ô tô đang vận hành thì bất ngờ mất nỗ lốp gây tai nạn, đường dây điện bat ngờ bị cháy/nồ. Thứ hai, khi đang có sự quản lý, vận hành của con người theo đúng quy trình, hướng dẫn sử dụng, nguồn nguy hiểm cao độ vẫn có khả năng gây thiệt hại.
Chính vì khả năng gây thiệt hại do hoạt động “tw than” của nguồn nguy hiểm cao độ nên trong nhiều trường hợp dù đang nằm trong sự quản lý, vận hành, bảo quản nghiêm ngặt của chủ sở hữu, người chiếm hữu sử dụng thì nguồn nguy hiểm cao độ vẫn có khả năng gây thiệt hại. Chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ là những người năm rõ nhất các quy luật vận hành, những khả năng gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ. Do đó, pháp luật buộc họ phải có trách nhiệm quản lý, trông giữ can thận nguồn nguy hiểm cao độ. Trường hop 9 chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ thiếu cân thận, lơ là trong quá trình quản lý để cho chủ thể khác có thê chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ thì bản thân chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 601 BLDS năm 2015 quy định cũng quy định về trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại, tuy nhiên thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ sẽ được miễn trừ khỏi trách nhiệm BTTH. Đây là một trường hợp loại trừ trách nhiệm đối với chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ khi họ đã áp mọi biện pháp cần thiết, ngăn cản người xung quanh tiếp xúc với nguồn nguy hiểm cao độ nhưng họ vẫn cố ý tiếp xúc thì họ phải tự gánh chịu hậu qua trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hai. Thứ ba, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thường lớn hơn thiệt hại do các loại tài sản khác gây ra. Các loại tai sản khác thường chi gây thiệt hại với tần suất thấp, ví dụ: Thiệt hại do cây cối gây ra, nhiều nhất chỉ là làm sập một ngôi nhà hay làm hư hỏng một tài sản nhất định, nó không thể phá hoại tài sản hay bất động sản một cách thần tốc; một ngôi nhà sập xong là chấm dứt hoạt động gây thiệt hại, nhà bên cạnh thường khó có thể sập theo.
Còn thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì ngược lại, những thiệt hại này thường kéo dài, mang tính liên tục cho đến khi không còn tác nhân có thể tác động đến. Ví dụ: các vụ tai nạn giao thông do xe ô tô bị mất phanh thường xảy ra liên hoàn gây thiệt hại đến hàng loạt xe khác. Thứ tw, nguồn nguy hiểm cao độ thường gây ra những thiệt hại khó hạn chế, khắc phục. Bản thân tên gọi “ngudn nguy hiểm cao độ” đã phan nào khái quát được đặc trưng của nguồn nguy hiểm cao độ đó chính là việc gây ra 10 thiệt hại thường rất lớn và khó hạn chế, khắc phục.
BLDS 2015 đã liệt kê ra nhiều loại nguồn nguy hiểm cao độ, có thê kế đến như phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, vũ khí, chất nỗ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ. Đây là những loại nguồn nguy hiểm cao độ nếu gây thiệt hại thì không chi gây ra những hậu quả trước mắt mà có thé gây ra những hậu qua lâu dài không thể lường trước cũng như khó có thể tìm phương án hạn chế, chắc phục. Điển hình cho những thiệt hại về lâu dai do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có thé kể đến tan dư vụ ném bom nguyên tử của Mỹ xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki Nhật Bản vào năm 1945. Ngoài sức tàn phá, huỷ diệt khủng khiếp về người và tài sản từ “hai qud cầu lửa ” này tại thời điểm bị ném xuống thì hậu quả mà nó đem lại cho đến nay vẫn chưa thê lường hết.
Trong 10 ngày sau vụ ném bom, nhiều người chết vì sốt, tiêu chảy và nôn ra máu — dấu hiệu phơi nhiễm phóng xạ. Những người còn sống bị rụng tóc, ton thương thanh quản, mệt mỏi hoặc tiếp tục chết trong tương lai do bệnh ung thư. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 1.