Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra Chương 2: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 5 Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra và một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN GÂY RA 1. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do ngƣời chƣa thành niên gây ra 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 1. Khái niệm người chưa thành niên Theo Từ điển tiếng Việt thì khái niệm người chưa thành niên được hiểu là: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân”[44].
Theo quy định tại Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1990 thì “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn”[45]. Trước hết xét dưới góc độ ngôn ngữ học: Thuật ngữ “người chưa thành niên” sẽ được hiểu là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân[49]. Tuy nhiên, trong các quy định của pháp luật của mỗi quốc gia thì có sự quy định khác nhau về vấn đề này. Theo quy định Công ước quốc tế về quyền trẻ em ghi nhận như sau: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”[45].
“Như vậy, pháp luật quốc tế ghi nhận định nghĩa không dựa vào đặc điểm tâm – sinh lý hay sự phát triển thể chất… mà trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua độ tuổi. Kể cả khái niệm trẻ em và khái niệm 7 người chưa thành niên đều giới hạn là dưới 18 tuổi, đồng thời đưa ra khả năng mở để cho các quốc gia tuỳ điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, truyền thống của mình có thể quy định độ tuổi khác”[47]. Người chưa đủ tuổi được phân thành một loạt độ tuổi khác nhau, trong đó nhóm người dưới 6 tuổi hoàn toàn không có khả năng thực hiện hành vi dân sự. Nhóm từ 6 đến chưa đủ 18 tuổi có khả năng hành vi dân sự nhưng bị hạn chế.
Người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và một phần thanh niên theo phân loại đối tượng. Dựa theo Bộ Luật Dân sự, người chưa thành niên (còn được gọi là vị thành niên) là những người dưới 18 tuổi. Theo Điều 586 Khoản 2 và Khoản 3 của Bộ Luật Dân sự (BLDS) năm 2015, "Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà có cha, mẹ thì cha, mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà người chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì sẽ sử dụng tài sản đó để bồi thường phần thiếu". Quy định này áp dụng trong trường hợp người gây thiệt hại không có khả năng bồi thường và vẫn còn dưới sự giám sát, quản lý của cha mẹ.
Mục đích của quy định này không phải là để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên đối với phần thiếu, mà là để bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại và đồng thời tuân thủ nguyên tắc bồi thường kịp thời[5]. Xét dưới góc độ nghiên cứu thì NCTN chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tức là chưa được phép tự mình xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự. Trên thực tế thì xuất phát từ nguyên nhân NCTN chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lí, chưa có khả năng nhận thức đầy đủ nên việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự của họ phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ trường hợp đặc biệt như giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày ph hợp với lứa tuổi hoặc có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định được phép [6]. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra Trách nhiệm pháp lý nói chung và TNBTTH ngoài hợp đồng nói riêng chỉ phát sinh dựa trên các quy định của pháp luật, BLDS năm 2015 đưa ra khái niệm chung về TNBTTHNHĐ nói chung: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng sức khoẻ, danh dự nhân phẩm uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”[3].
Như vậy, theo quy định này, TNBTTH ngoài hợp đồng phát sinh khi (1) Có thiệt hại xảy ra đây là những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác; (2) Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại; (3) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra[6]. Trong lĩnh vực pháp luật dân sự, nguyên tắc cơ bản là khi một chủ thể pháp luật thực hiện hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác, sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) gây ra cho người bị hại. Tuy nhiên, nếu người thực hiện hành vi này không có khả năng nhận thức đầy đủ về hành vi xâm hại của mình, họ không phải chịu trách nhiệm BTTH. Khả năng nhận thức về hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, theo thuật ngữ pháp lý, được gọi là "Năng lực chịu trách nhiệm BTTH".
Do đó, "năng lực chịu trách nhiệm" là điều kiện quan trọng để xác định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.Thường, nghĩa vụ chứng minh năng lực chịu trách nhiệm sẽ thuộc về bị đơn. Điều này có nghĩa là, khi bị đơn chứng minh rằng họ không có năng lực chịu trách nhiệm, thì không thể coi đó là vi phạm trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đối với bị đơn. D có đủ điều kiện để xác định trách nhiệm BTTH như hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, sự thiệt hại, lỗi và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại, nhưng thiếu vắng năng lực chịu trách nhiệm có thể làm mất đi sự 9 cấu thành của trách nhiệm BTTH. Thực tế, trẻ em và thanh niên dưới độ tuổi pháp luật không thể chịu trách nhiệm hình sự cho các hành vi vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ không chịu trách nhiệm về các hành vi của mình khi gây ra tổn thất hoặc thiệt hại đối với người khác hoặc tài sản của người khác. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp người chưa thành niên gây ra thiệt hại về tài sản hoặc danh dự của người khác, hoặc gây ra thiệt hại về tính mạng và sức khỏe của người khác[6]. Để giải quyết vấn đề này, khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra đã được ra đời. Theo đó, trách nhiệm này được áp dụng đối với những trường hợp khi người chưa thành niên gây ra thiệt hại đối với quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác[8].
Từ đó, ta có thể định nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra (TNBTTH) như sau: TNBTTH do người chưa thành niên gây ra là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể có năng lực bồi thường phải bù đắp tổn thất do người chưa thành niên xâm phạm đến những quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác gây ra. Các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra đã thiết lập một cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp liên quan. Khi người chưa thành niên gây ra thiệt hại, các quy định này xác định rõ trách nhiệm của cha mẹ (nếu còn), người giám hộ, và người quản lý hợp pháp của người chưa thành niên, coi họ là có lỗi và chịu trách nhiệm bồi thường. Nhờ quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra, quyền lợi của người bị thiệt hại được đảm bảo.
Trách nhiệm này cũng giúp nâng cao ý thức trách nhiệm của cha mẹ, gia đình, và người có trách nhiệm quản lý, cũng như ý thức trách nhiệm của cả xã hội 10 và nhà nước trong việc chăm sóc, giáo dục và quản lý người chưa thành niên - những thế hệ trẻ được coi là chủ nhân tương lai của đất nước. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 1. Đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trách nhiệm BTTH do người chưa thành niên gây ra là một loại trách nhiệm pháp lý, cụ thể là trách nhiệm dân sự. Do đó, TNBTTH do người chưa thành niên gây ra mang đầy đủ các đặc trưng của trách nhiệm pháp lý nói chung, cụ thể: Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là loại hậu quả pháp lý bất lợi Hậu quả pháp lý bất lợi này sẽ phải dongười gây thiệt hại hoặc người có trách nhiệm bồi thường gánh chịu.
Chủ thể gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi này phải b đắp những tổn thất mà người bị thiệt hại đã phải chịu đựng. Do đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn đem lại hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại nói chung. Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là góp phần tạo nên một xã hội công bằng và văn minh [7]. Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp dụng khi có sự xảy ra thiệt hại.
Thiệt hại có thể gây ra về tài sản hoặc tính mạng và sức khỏe của người khác. Ví dụ, khi một người lái xe vi phạm luật giao thông và gây ra tai nạn, gây thiệt hại cho người khác hoặc tài sản của họ, người lái xe sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp khi một chủ thể gây ra thiệt hại mà không vi phạm pháp luật. Trong những trường hợp này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không được áp dụng.
Do đó, việc xác định sự vi phạm pháp luật là vô cùng quan trọng để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại.