Luận án tiến sĩ kỹ thuật hóa học tổng hợp xúc tác cacbon hóa mao quản trung bình từ nguồn bã tảo ứng dụng để chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tổng hợp xúc tác cacbon hóa mao quản trung bình từ bã tảo, ứng dụng chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen hiệu quả.

Chuyên ngành

Kỹ thuật hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

151
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Xúc tác cacbon hóa và quá trình cacbon hóa mao quản trung bình

Luận án tập trung vào việc tổng hợp xúc tác cacbon hóa từ nguồn bã tảo, một nguyên liệu sinh học dồi dào. Xúc tác cacbon hóa được chế tạo thông qua quá trình cacbon hóa không hoàn toàn, tạo ra biochar làm tiền chất. Biochar sau đó được sunfo hóa để tăng độ axit và khả năng tương tác với chất tạo cấu trúc. Mao quản trung bình (MQTB) được hình thành nhờ sử dụng chất tạo cấu trúc mềm như CTAB, tạo ra hệ thống mao quản trật tự và thông thoáng. Quá trình này giúp cải thiện bề mặt riêng và độ chọn lọc hình dáng của xúc tác, phù hợp với kích thước động học của các phân tử lớn như triglyxerit trong dầu lanh.

1.1. Khái quát về xúc tác cacbon hóa

Xúc tác cacbon hóa là loại xúc tác có khung hữu cơ, được chế tạo từ các nguồn sinh khối chứa cacbohydrat. Chúng có lực axit mạnh và ổn định, thích hợp cho các quá trình tổng hợp nhiên liệu sinh học (NLSH). Tuy nhiên, nhược điểm của loại xúc tác này là bề mặt riêng thấp và thiếu hệ thống mao quản đồng đều, làm giảm hiệu quả phản ứng với các phân tử lớn.

1.2. Phương pháp chế tạo xúc tác cacbon hóa MQTB

Phương pháp chế tạo xúc tác cacbon hóa MQTB bao gồm các bước: nhiệt phân sinh khối tạo biochar, sunfo hóa để tăng độ axit, và sử dụng chất tạo cấu trúc mềm như CTAB để hình thành hệ thống mao quản trung bình. Quá trình này được thực hiện trong điều kiện êm dịu, đảm bảo tính ổn định và hiệu quả của xúc tác.

II. Ứng dụng xúc tác trong chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen

Xúc tác cacbon hóa MQTB được ứng dụng trong quá trình chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen, một loại nhiên liệu sinh học có tiềm năng thay thế nhiên liệu phản lực truyền thống. Dầu lanh, với thành phần giàu triglyxerit, được chuyển hóa thông qua phản ứng trao đổi este một giai đoạn. Xúc tác meso cacbon hóa với hệ thống MQTB thông thoáng giúp tăng hiệu suất chuyển hóa và độ chọn lọc sản phẩm.

2.1. Quá trình chuyển hóa dầu lanh

Quá trình chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen được thực hiện thông qua phản ứng trao đổi este với methanol. Xúc tác meso cacbon hóa đóng vai trò quan trọng trong việc tăng tốc độ phản ứng và hiệu suất tạo sản phẩm. Các yếu tố ảnh hưởng như nhiệt độ, thời gian phản ứng, và tỷ lệ methanol/dầu được tối ưu hóa để đạt hiệu suất cao nhất.

2.2. Phối trộn biokerosen với nhiên liệu phản lực

Sau khi tổng hợp, biokerosen được phối trộn với nhiên liệu phản lực thương mại Jet A-1 để tạo ra nhiên liệu phản lực sinh học. Quá trình phối trộn được nghiên cứu để đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật như độ ổn định oxy hóa, nhiệt độ đông đặc, và hàm lượng lưu huỳnh đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

III. Đánh giá và ứng dụng thực tiễn của xúc tác meso cacbon hóa

Xúc tác meso cacbon hóa từ bã tảo không chỉ có hoạt tính cao mà còn có khả năng tái sử dụng tốt, giảm chi phí sản xuất và thân thiện với môi trường. Nghiên cứu này mở ra hướng phát triển công nghệ chuyển hóa xanh, sử dụng nguyên liệu sinh học để sản xuất nhiên liệu tái tạo. Dầu lanh, với tiềm năng phát triển lớn ở Việt Nam, là nguyên liệu lý tưởng cho quá trình này.

3.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu đóng góp vào việc phát triển xúc tác meso cacbon hóa với hệ thống MQTB trật tự, phù hợp cho các quá trình chuyển hóa dầu thực vật thành nhiên liệu sinh học. Đây là bước tiến quan trọng trong lĩnh vực hóa học xanhnăng lượng tái tạo.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Xúc tác meso cacbon hóa có thể được sản xuất từ nguồn nguyên liệu sinh khối dồi dào như bã tảo, giảm thiểu chi phí và tác động môi trường. Biokerosen từ dầu lanh có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong ngành hàng không, góp phần giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ kỹ thuật hóa học tổng hợp xúc tác cacbon hóa mao quản trung bình từ nguồn bã tảo ứng dụng để chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Xúc tác cacbon hóa và cacbon hóa MQTB 1. Khái quát chung về xúc tác cacbon hóa 1.

Tầm quan trọng của xúc tác cacbon hóa Kể từ khi khám phá ra hệ xúc tác axit rắn đi từ đường glucozơ, hay nói cách khác là xúc tác trên cơ sở cacbon hóa đường glucozơ, sau đó sunfo hóa sản phẩm bột đen đi từ đường này [79, 118], các quá trình chế tạo và phát triển loại xúc tác đó đang tăng lên nhanh chóng với rất nhiều ứng dụng như tổng hợp NLSH, biến tính các vật liệu nguồn. Xúc tác loại này được chế tạo theo phương pháp cacbon hóa không hoàn toàn đường tự nhiên tại nhiệt độ khoảng 400oC, sau đó sunfo hóa với axit sunfuric để hình thành các tâm axit. Theo nghiên cứu của tác giả [83], xúc tác có hoạt tính tương đương với axit sunfuric trong quá trình este hóa axit oleic, và mạnh hơn so với zirconi sunfat hóa, nhựa Amberlyst-15 hay axit niobic trong phản ứng trao đổi este dầu thực vật [129]. Các loại xúc tác trên cơ sở cacbon (từ đây gọi là xúc tác cacbon hóa) có rất nhiều ưu điểm của xúc tác axit rắn điển hình, được hình thành bởi đặc thù của các nguyên tử C sở hữu nhiều trạng thái lai hóa từ sp, sp2 cho đến sp3, mang đến khả năng tạo ra các cấu trúc khác nhau trong cùng một loại xúc tác như cấu trúc lớp, ống hay cấu trúc dạng cầu.

Cacbon có thể ở tồn tại từ hình thái tinh thể đến vô định hình nên có thể dễ dàng đưa các nhóm chức năng vào trong mạng lưới chất mang. Hơn nữa, những loại xúc tác này có thể được hoạt hóa để tăng diện tích bề mặt, mở rộng kích thước mao quản với bề mặt kị nước – một tính chất quan trọng để gắn các nhóm mang tính axit cao như sunfo cũng như duy trì hoạt tính trong môi trường có sự tham gia của nước. Xúc tác cacbon hóa được chế tạo dễ dàng từ những nguồn nguyên liệu tái tạo rẻ tiền như đường [18, 19, 118], gỗ [61], asphalten từ dầu thực vật [108], glyxerin [100], các loại cacbon composit [66, 78]; chúng cũng có thể được biến đổi để tạo ra những dạng có cấu trúc đặc trưng như ống nanocacbon đa thành sunfo hóa [108]. Như vậy, ngoài những nguồn nguyên liệu tái tạo đi từ dầu mỡ động thực vật, nay chúng ta còn có thể tổng hợp ra các xúc tác cũng có khả năng tái tạo đi từ cacbohydrat thiên nhiên.

Một loại vật liệu khác cũng thu hút được sự quan tâm đó là vật liệu xúc tác cacbon hóa dạng MQTB có bề mặt riêng lớn. Tính chất của MQTB mang đến cho xúc tác khả năng nâng cao hoạt tính và mở rộng các ứng dụng hơn so với xúc tác cacbon hóa thông thường có bề mặt riêng thấp [65, 66, 96]. Có nhiều phương pháp 14 có thể ứng dụng để chế tạo loại xúc tác này như phương pháp sử dụng chất tạo cấu trúc silica [96, 124], phương pháp hoạt hóa hóa học [124], trong đó phương pháp sử dụng chất tạo cấu trúc dạng silica được ứng dụng phổ biến nhất do có thể tạo ra cấu trúc mao quản đồng đều, trật tự. Một số nghiên cứu [96, 124] cho biết, khi đưa chất tạo cấu trúc dạng silica vào quá trình tổng hợp sẽ làm bền các mao quản trong của vật liệu xúc tác, tránh được quá trình sập cấu trúc trong giai đoạn sunfo hóa.

Tuy nhiên, vẫn chưa có dữ liệu nào cho biết hoạt tính của các loại xúc tác đó trong trường hợp cấu trúc mao quản bị sập, nên vai trò của silica trong quá trình sunfo hóa vẫn chưa được nắm bắt rõ ràng. Theo đó, các ảnh hưởng của bề mặt riêng, kích thước mao quản, độ axit tổng và mật độ các nhóm -SO3H đến hoạt tính của các xúc tác cacbon hóa vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, rất cần có những nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ những quy luật trong quá trình chế tạo xúc tác, qua đó cải tiến phương pháp để tạo ra xúc tác tốt nhất. Nguyên lý của quá trình chế tạo xúc tác cacbon hóa Các vật liệu cacbohydrat, bao gồm đường đơn, đường đôi và đường đa, cấu tạo chủ yếu bởi các vòng piranozơ của glucozơ và furanozơ của fructozơ, liên kết với nhau bằng liên kết 1,4-glycosit. Một nghiên cứu từ năm 1951 của nhà tinh thể học Rosalind Franklin [104] và những thông tin thu được từ nghiên cứu của Okamura vào năm 2006 [117] cho biết, trong quá trình cacbon hóa không hoàn toàn, bên cạnh phản ứng ngưng tụ các nhóm –OH tách nước để hình thành các hệ đa vòng thơm ngưng tụ với cấu trúc 3D (chứa các liên kết ngang bền vững thông qua những nguyên tử cacbon lai hóa sp3 như trên hình 1.1 theo Franklin [104]), còn có các quá trình bẻ gãy các liên kết ngang này khi nhiệt độ cacbon hóa tăng lên.

Khi các liên kết ngang dần bị bẻ gãy do nhiệt độ cacbon hóa cao, các lớp đa vòng thơm ngưng tụ được giải phóng và sắp xếp có trật tự hơn. Đồng thời với quá trình đó, việc tách các nhóm –OH trong điều kiện nhiệt độ cao theo cơ chế gốc cũng tạo ra các gốc tự do trên mỗi lớp để ghép nối nhiều lớp thành hệ những đa vòng thơm ngưng tụ lớn hơn. Quá trình này xảy ra càng nhanh khi nhiệt độ cacbon hóa càng lớn và được gọi là sự ”kết tinh địa phương” hay ”graphit hóa”, cuối cùng có thể tạo ra một hệ thống các lớp đa vòng thơm ngưng tụ trật tự, đồng đều, dạng tinh thể tương tự graphit. Cấu trúc không gian 3D của bột đen theo Franklin (trong đó các đoạn thẳng biểu trưng cho các lớp đa vòng thơm ngưng tụ, các đoạn cong dùng để chỉ các liên kết ngang thông qua những nguyên tử C lai hóa sp3) Quá trình graphit hóa làm giảm mạnh mật độ các vị trí tự do hay vị trí chưa bị thế trên vòng thơm; các vị trí này có khả năng được thế bằng nhóm –SO3H trong phản ứng sunfo hóa, đồng nghĩa với việc sự graphit hóa làm giảm lượng nhóm –SO3H thế vào, giảm tính axit và giảm hoạt tính xúc tác đối với quá trình tổng hợp alkyl este.

Mặt khác, nếu nhiệt độ cacbon hóa quá thấp, quá trình ngưng tụ tách các nhóm –OH có tốc độ chậm làm cho bột đen thu được chứa quá nhiều nhóm –OH và ít các lớp 3D chứa đa vòng thơm ngưng tụ. Điều này cũng gây bất lợi cho giai đoạn sunfo hóa vì cũng làm giảm lượng nhóm –SO3H có thể đưa lên bề mặt xúc tác. Theo Toda và các cộng sự [118], quá trình cacbon hóa không hoàn toàn các vật liệu trên tạo ra bột đen chứa nhiều hệ đa vòng thơm ngưng tụ liên kết với nhau qua các nguyên tử C lai hóa sp3, do đó có cấu trúc không gian 3 chiều. Cấu trúc xúc tác cacbon hóa theo Toda 16 1.

Các phương pháp sunfo hóa Chất mang tạo thành sau quá trình cacbon hóa nguồn chứa đường được sunfo hóa để tạo ra các tâm axit. Có hai phương pháp sunfo hóa chủ yếu được sử dụng là phương pháp sunfo hóa pha lỏng và sunfo hóa pha hơi. Cả hai phương pháp đều có thể sử dụng axit sunfuric làm tác nhân phản ứng. Sunfo hóa pha lỏng Quá trình sunfo hóa pha lỏng có thể thực hiện trong dung môi hoặc không có dung môi.

Các loại dung môi có thể sử dụng là etanol, heptan và axeton. Trong quá trình sunfo hóa có dung môi, chất mang sẽ được hòa trộn với dung môi và tác nhân sunfo hóa (axit sunfuric, PSA hay một số tác nhân chứa nhóm sunfo khác) trong một bình cầu. Hỗn hợp được khuấy trộn trong 30 phút tại nhiệt độ phòng. Sản phẩm sunfo hóa sau đó được lọc tách và sấy khô tại nhiệt độ phòng.

Tiếp đến là quá trình rửa sản phẩm bằng nước nóng đến khi pH của nước rửa đạt trung hòa và không phát hiện ra ion sunfat nữa. Mẫu xúc tác lại tiếp tục được sấy tại 110oC qua đêm và có thể mang đi xác định các đặc trưng hóa lý sau đó. Sunfo hóa pha hơi Sự khác nhau cơ bản giữa sunfo hóa pha lỏng và sunfo hóa pha hơi dựa trên các ảnh hưởng đến tính chất vật lý và hóa học của xúc tác. Trong khi sunfo hóa pha lỏng có thể làm sập hoàn toàn cấu trúc mao quản trong của chất mang thì sunfo hóa pha hơi giảm đáng kể hiệu ứng này.

Sự khác biệt này có được do sự khác nhau trong cơ chế tiếp xúc giữa tác nhân và chất mang trong hai phương pháp. Trong phương pháp sunfo hóa pha lỏng, nồng độ của axit sunfuric có thể lên đến gần 20 mol/l tại 60oC, kết hợp với hiệu ứng mao quản – hiệu ứng điền đầy toàn bộ các mao quản trong bằng tác nhân sunfo hóa, làm cho phản ứng xảy ra cực kỳ mãnh liệt và có khả năng phá hủy hoàn toàn các tường thành mao quản. Ngược lại, trong quá trình sunfo hóa pha hơi, nồng độ axit suunfuric rất thấp (chỉ khoảng 0,0083 mol/l) tại nhiệt độ phản ứng nên phản ứng xảy ra êm dịu hơn nhiều, bảo vệ được các thành mao quản. Trong phương pháp sunfo hóa pha hơi, sự khuếch tán của hơi thúc đẩy sự hấp phụ của axit sunfuric, đầu tiên lên bề mặt ngoài, sau đó len sâu vào các mao quản phía trong của các hạt chất mang.

Sự khuếch tán và hấp phụ nhanh chóng này dẫn đến hình thành một lớp màng rất mỏng bao quanh các hạt chất mang, đồng thời với quá trình ngưng tụ hơi axit vào trong mao quản chất mang do hiệu ứng mao dẫn. Quá dư hơi axit sẽ tạo thành các màng đa lớp và nhanh chóng bão hòa lớp vật liệu, cản trở quá trình hấp phụ vào trong mao quản; do đó, việc tách bỏ các màng này là cần thiết để tăng bề mặt cho quá trình hấp phụ. Độ axit của xúc tác vì thế tăng mạnh sau mỗi lần sunfo hóa và rửa [58, 95]. Xúc tác cacbon hóa có thể chế tạo từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau, miễn là trong thành phần của chúng có chứa nhiều cacbon, có các nhóm chức như –OH hoặc –COOH.

Rất nhiều tiền chất có sản lượng lớn, giá thành rẻ có khả năng làm 17 được việc đó như các loại đường đơn (glucozơ, fructozơ.), đường đôi (saccarozơ) hay đường đa như tinh bột, xenlulozơ. Thậm chí những nguyên liệu tưởng như là phế thải như lignin, các loại asphalten đi từ dầu thực vật hay dầu mỏ, sau quá trình cacbon hóa không hoàn toàn vẫn có hiệu quả sử dụng rất cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tổng hợp xúc tác cacbon hóa mao quản trung bình từ bã tảo ứng dụng chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen là một nghiên cứu đột phá trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, tập trung vào việc sử dụng bã tảo để tạo ra xúc tác cacbon hóa mao quản trung bình, nhằm chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen. Nghiên cứu này không chỉ mang lại giải pháp bền vững cho ngành năng lượng mà còn góp phần giảm thiểu tác động môi trường từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về quy trình công nghệ, hiệu quả kinh tế và tiềm năng ứng dụng thực tiễn của phương pháp này.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến hóa học và năng lượng tái tạo, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn sâu sắc về tác động của hóa chất đến môi trường và sức khỏe. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu thêm về ứng dụng hóa học trong đánh giá môi trường. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp phân tích hóa học trong thực tiễn.