CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Ứng dụng lưu huỳnh trong tổng hợp hữu cơ Lưu huỳnh là một trong những nguyên tố được biết đến và sử dụng từ hàng ngàn năm qua. Lưu huỳnh là nguyên tố phổ biến thứ 5 trên Trái đất. Năm 1880, nguồn lưu huỳnh tự nhiên dồi dào được phát hiện từ dưới lòng đất của núi lửa Sicily.
Đến năm 1891, từ các phát minh của Frasch đã nghiên cứu đề ra quy trình khai thác lưu huỳnh tự nhiên với số lượng lớn và quy mô công nghiệp. [13] Sau nhiều kiểm tra đánh giá độ tinh khiết, lưu huỳnh có độ tinh khiết cao đã được sản xuất rộng rãi và sử dụng phổ biến trên thị trường. Sản lượng lưu huỳnh trên thế giới năm 2011 lên đến 69 triệu tấn, với sự đóng góp của hơn 15 quốc gia. [14] Năm 2014, Trung Quốc là nước đã nhập khoảng 10.2 triệu tấn lưu huỳnh phần lớn sử dụng trong sản xuất phân lân.
Qua đó, có thể thấy sản lượng và khả năng tiêu thụ của lưu huỳnh ngày càng tăng qua các năm. Với các quy định mới nhằm giảm hàm lượng lưu huỳnh trong nhiên liệu hóa thạch, lưu huỳnh nguyên tố trở thành một sản phẩm phụ lãng phí của ngành công nghiệp lọc dầu và khí đốt. Do đó, sản lượng toàn cầu hàng năm của nguyên tố này vượt quá 80 triệu tấn và vượt quá nhu cầu của ngành công nghiệp hóa chất. Việc lưu trữ quy mô lớn trong thời gian dài gây ra các vấn đề về môi trường (nguy cơ cháy nổ và ô nhiễm không khí, nước và đất bị chua).
Trong bối cảnh này, việc sử dụng lưu huỳnh cho các mục đích hữu ích khác có thể là một giải pháp xanh tuyệt vời. [15] Lưu huỳnh được ứng dụng nhiều trong các lĩnh vực khác nhau như: y dược, y học, nông nghiệp, công nghiệp, mỹ phẩm,… và được dùng làm nguồn nguyên liệu quan trọng trong lĩnh vực hóa học như hóa hữu cơ, hóa vô cơ, và hóa học polymer. [16] Trong công nghiệp sản xuất hóa chất lưu huỳnh được sử dụng phổ biến để tạo các sản phẩm như: acid sulfuric, cao su lưu hóa, thuốc diệt nấm, phân lân, thuốc nổ. [14] Chính nhờ những ứng dụng và sản lượng lớn như vậy việc nghiên cứu để mở rộng thêm khả năng ứng dụng 6 của lưu huỳnh là hết sức cần thiết hiện nay.
Gần đây, lưu huỳnh là nguyên tố đã được ứng dụng trong tổng hợp hữu cơ dựa trên các đặc tính và khả năng phản ứng mới của nó. Do đó, nhiều nhà khoa học đã tiến hành sử dụng lưu huỳnh có thể làm chất xúc tác, chất khử, chất oxy hóa trong các phản ứng tổng hợp hữu cơ. Trong những năm gần đây, việc sử dụng lưu huỳnh nguyên tố để xây dựng các liên kết carbon-lưu huỳnh (C-S, C=S) đã thu hút sự chú ý lớn trong tổng hợp hữu cơ, vì tính độc hại thấp, ổn định trong điều kiện môi trường, dễ xử lý, sẵn sàng, không bay hơi, thiếu mùi và giá thấp. Lưu huỳnh nguyên tố có thể được sử dụng như một chất oxy hóa, chất khử, chất xúc tác và khối xây dựng nguyên tố.
Lưu huỳnh là tác nhân khử Ryu và cộng sự đã công bố rằng một số dẫn xuất của hợp chất nitrobenzene bị khử bởi nguyên tố lưu huỳnh trong dung dịch ammonia và trong amine tạo thành các dẫn xuất của aniline tương ứng (Hình 1. [18] Tuy nhiên, việc đưa các nhóm thế vào vòng benzene hoặc do ảnh hưởng của của amine đã làm thay đổi cơ chế của phản ứng này. Điển hình như 4-nitrotoluene và 4-cyanonitrobenzene khi bị khử bởi lưu huỳnh trong dung dịch ammonia không chỉ tạo ra các sản phẩm khử tương ứng mà còn 4,4- dicyanodiphenyl disulfide và 4-cyanoaniline. 4,4-dicyanodiphenyl disulfide được tạo thành là do sự thay thế của nhóm nitro bằng một tác nhân ái nhân sulfenyl, còn 4- cyanoaniline do quá trình khử nhóm nitro và quá trình oxy hóa ammono của nhóm methyl diễn ra đồng thời.
Laughlin và cộng sự đề ra một phương pháp mới để khử các nitrobenzene thành các aniline bằng cách sử dụng lưu huỳnh và base (Hình 1. Phương pháp này nhằm tránh việc sử dụng các kim loại chuyển tiếp làm xúc tác, giảm việc sử dụng [H] trong quá trình chuyển đổi và tạo thành aniline với hiệu suất trung bình và cao. Phản ứng giữa hợp chất nitrobenzene với lưu huỳnh trong dung dịch ammonia. Phản ứng giữa hợp chất nitrobenzene với lưu huỳnh và base.
Feroci và cộng sự đã cho thấy lưu huỳnh được hoạt hóa bằng anion cyanonethyl. [20] Lưu huỳnh hoạt hóa sẽ tham gia phản ứng với 2-(4-phenylcyclohexylidene)- malononitrile và tạo thành sản phẩm 2-aminothiophene với hiệu suất cao 85% (Hình 1. Phản ứng giữa 2-(4-phenylcyclohexylidene)malononitrile và lưu huỳnh đã hoạt hóa. Phản ứng giữa alkyne, amine và lưu huỳnh.
Nguyen và cộng sự đã tìm kiếm một phương pháp mới để tạo thành thioamide từ alkyne, lưu huỳnh, amine (Hình 1. Cụ thể, là phản ứng giữa phenylacetylene, 2- phenethylamine, và lưu huỳnh. Phản ứng cho hiệu suất cao ngay ở nhiệt độ thấp 60 oC đến 100 oC, và một lượng nhỏ pyridine có vai trò như là dung môi hòa tan giúp cho phản ứng chuyển hóa dễ dàng hơn. Lưu huỳnh là tác nhân oxy hóa Shibahara và cộng sự đã báo cáo rằng quá trình oxy hóa ngưng tụ-đóng vòng giữa các aldehyde thơm và aryl-2-pyridylmethylamine.
Phản ứng của aldehyde thơm với aryl-2-pyridylmethylamine. Phản ứng tổng hợp benzothiazole từ 2-chloronitrobenzene, lưu huỳnh và các benzylamine. Tong và cộng sự đề xuất một quy trình tổng hợp benzothiazole từ 2- chloronitrobenzene, lưu huỳnh và các benzylamine (Hình 1.6) trong điều kiện không dung môi, không xúc tác, không có các tác nhân khử, oxy hóa bên ngoài tác động vào. [23] Gốc methylene của benzylamine dễ bị oxy hóa bởi lưu huỳnh, cùng với đó kết hợp với 2-chloronitrobenzene tạo thành một số hợp chất dị vòng quan trọng.
Li và cộng sự đề ra một quy trình oxy hóa mới của 2-aminothiophene và arylacetylene hoặc styrene để tổng hợp 2-alkylbenzothiazole và 2-acylbenzothiazole 10 (Hình 1. [24] Trong vài thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã có những tiến bộ to lớn trong tổng hợp 2-benzothiazole và các dẫn xuất của nó. Bao và Yu trong báo cáo của mình để tạo thành 2-benzothiazole từ 2-aminothiophenol và β-ketone với chất xúc tác là acid Bronsted trong điều kiện phản ứng nhẹ. [25] Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi chất oxy hóa mạnh hoặc nhiệt độ cao khi sử dụng 2-aminothiophenol làm chất phản ứng, làm ảnh hưởng đến khả năng chịu đựng của các nhóm chức.
Do đó, quy trình mà Li và cộng sự đề ra cho thấy khả năng ứng dụng cao trong quá trình tổng hợp 2- alkylbenzothiazole và 2-acylbenzothiazole (dẫn xuất của 2-benzothiazole) trong điều kiện không có kim loại và lưu huỳnh được sử dụng làm chất oxy hóa để thúc đẩy quá trình phản ứng trong điều kiện nhẹ. Phản ứng tạo thành 2-alkylbenzothiazole và 2-acylbenzothiazole từ của 2- aminothiophene và arylacetylene hoặc styrene. Cùng năm, Wang và cộng sự đã đưa ra một cách tiếp cận mới không sử dụng kim loại chuyển tiếp làm chất xúc tác để tạo thành các dẫn xuất của 2-benzothiazole. [26] Quá trình ngưng tụ oxy hóa khử diễn ra khi sử dụng lưu huỳnh như là chất oxy hóa cùng với benzyl chloride và o-chloronitrobezene.
Phản ứng này tạo ra các dẫn xuất 2- benzothiazole với hiệu suất cao và tạo thành được 24 dẫn xuất của 2-benzothiazole (Hình 1. Phản ứng tổng hợp 2-benzothiazole từ benzyl chloride và o- chloronitrobezene. Phản ứng giữa o-aminophenol và ketone được tiến hành ở 80 oC tạo thành các dẫn xuất 2-alkylbenzoxazole. Cùng năm đó, Nguyen và cộng sự cũng báo cáo quy trình tổng hợp các dẫn xuất 2- alkylbenzoxazole trong điều kiện phản ứng tương đối êm dịu (Hình 1.
[27] N- methylpiperidine và lưu huỳnh được sử dụng làm chất oxy hóa trong việc thúc đẩy quá trình oxy hóa trật tự giữa o-aminophenol và ketone. Trong quá trình nghiên cứu Nguyen đã nhận định lưu huỳnh là một nguyên tố tuyệt vời và linh hoạt để tham gia các phản ứng tổng hợp hữu cơ. Một ví dụ điển hình phenylthioacetamide thu được acetophenone được đun nóng trong dung dịch ammonium sufide có chứa lưu huỳnh ví dụ này thường được gọi là tác nhân Willgerodt. [28] Sự phát triển thêm của phản ứng này bao gồm việc sử dụng các base nitơ khác như morpholine/piperidine thay vì ammonia và cho phép phản ứng xảy ra ở nhiệt độ thấp hơn và phạm vi rộng hơn.
Trong phản ứng này, nếu các các tác nhân ái nhân khác nhau có mặt trong môi trường phản ứng, các thioamide chính sẽ tiếp tục biến đổi thành sản phẩm không chứa lưu huỳnh thông qua phản ứng chuyển hóa. Tuy nhiên, quá trình thứ hai đòi hỏi năng lượng hoạt hóa cao, dẫn đến nhiệt độ phản 12 ứng cao. Trong trường hợp xảy ra tấn công theo cơ chế ái nhân hai lần, sản phẩm không chứa lưu huỳnh sẽ thu được và phản ứng toàn cục tạo thành một chiến lược mới của C- H hoạt hóa với việc tổ chức lại đồng thời các mức độ oxy hóa của chuỗi carbon. Năm 2017, trong báo cáo của mình Nguyen đã trình bày về việc sử dụng tác nhân ái nhân tấn công hai lần được thực hiện tốt nhất với bisnucleophile để giảm năng lượng cần thiết của bước khử lưu huỳnh và phản ứng giữa o-aminophenol và ketone được tiến hành ở 80 oC tạo thành các dẫn xuất 2-alkylbenzoxazole.
Phản ứng trime hóa tạo thành pyrrole từ arylacetonitrile. 2-benzoxazole được tạo thành từ 2-aminophenol với aldehyde. Nguyen và cộng sự trong một nghiên cứu khác đã đưa ra một phản ứng trime hóa mới (Hình 1.10) có sử dụng lưu huỳnh làm chất oxy hóa trong quá trình hình thành nên các pyrrole từ arylacetonitrile với dung môi là DMSO và xúc tác là DABCO. [15] Hàng loạt dẫn xuất của pyrrole được tạo thành với hiệu suất cao, cấu hình ổn định.
Gần đây, Nguyen và cộng sự đã sử dụng lưu huỳnh làm chất oxy hóa trong quá trình oxy hóa và ngưng tụ của 2-aminophenol với aldehyde để tạo thành các dẫn xuất 2- 13 benzoxazole (Hình 1. [29] Phản ứng có sử dụng thêm Na2S.5H2O làm chất xúc tác và DMSO làm dung môi của phản ứng. Phản ứng này so với việc sử dụng oxy làm chất oxy hóa thì phương pháp này có ưu điểm hơn là đơn giản hạn chế được khả năng bị dồn nén áp suất trong quá trình phản ứng. Cùng năm đó, Nguyen và cộng sự đề ra quá trình điều chế trực tiếp 2,5- diformylfuran (DFF) từ glucose hoặc fructose với các tác nhân như lantan (III) triflate, lưu huỳnh, dimethyl sulfoxide (DMSO) (Hình 1.
Phản ứng chuyển hóa trực tiếp của glucose hoặc frutose thành tiếp 2,5- diformylfuran. Phương pháp này tạo ra DFF với hàm lượng cao quá trình khử nước/oxy hóa chỉ diễn ra bằng một phản ứng duy nhất. Quá trình này cho thấy khả năng ứng dụng cao trong việc sản xuất DFF quy mô lớn do phương pháp tiến hành đơn giản và thân thiện với môi trường.