CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG NGHỆ NANO 1. Lịch sử phát triển công nghệ nano Khái niệm về "nanomet" được đề xuất lần đầu tiên bởi Richard Zsigmondy, giải thưởng Nobel năm 1925 về hóa học.
Ông đặt ra khái niệm nanomet để mô tả kích thước hạt và ông là người đầu tiên đo kích thước của các hạt như keo vàng bằng kính hiển vi. Công nghệ nano hiện đại là đứa con tinh thần của Richard Feynman (1918 - 1988), người đoạt giải Nobel Vật Lý năm 1965. Trong cuộc họp của Hiệp hội Vật lý Hoa Kỳ năm 1959 tại Caltech, ông đã trình bày một bài thuyết trình với nhan đề "There's plenty of room at the bottom" (Có rất nhiều chỗ trống ở cấp vi mô), trong đó ông giới thiệu khái niệm sự can thiệp vào vật liệu ở cấp độ nguyên tử. Ý tưởng mới này đã thể hiện những cách suy nghĩ mới và giả thuyết của Feynman đã được chứng minh là chính xác.
Đó là vì những lý do này mà ông được coi là cha đẻ của công nghệ nano hiện đại. Đến 1974, một nhà khoa học người Nhật, Norio Taniguchi, là người đầu tiên sử dụng khái niệm "công nghệ nano". Ông định nghĩa rằng công nghệ nano chủ yếu bao gồm việc xử lý, tách, hợp nhất, và biến dạng của vật liệu bằng một nguyên tử hoặc một phân tử. Thời kỳ vàng son của công nghệ nano bắt đầu vào những năm 1980 khi Kroto, Smalley và Curl khám phá ra các fullerene (Một dạng thù hình của carbon, là dạng phân tử lớn tạo bởi nhiều nguyên tử carbon C20, C60.
Vào năm 1986 Eric Drexler đã xuất bản cuốn sách “Những cổ máy sáng tạo: kỷ nguyên công nghệ nano đang tới” (“Engines of Creation: The Coming Era of Nanotechnology. Viễn cảnh công nghệ nano của Drexler thường được gọi là "công nghệ nano phân tử. Khoa học về công nghệ nano đã được tiến xa hơn khi Iijima, một nhà khoa học Nhật Bản, phát triển các ống nano cacbon. Sự khởi đầu của thế kỷ 21 đã chứng kiến sự phát triển ngày càng tăng của các lĩnh vực mới về khoa học nano và công nghệ nano.
Ở Hoa Kỳ, Feynman và khái niệm sự can MSHV: 18803139 HVTH: Võ Thanh Trúc Luận Văn Thạc Sĩ 6 GVHD: TS. Nguyễn Thành Danh thiệp vào vật liệu ở cấp độ nguyên tử đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình các ưu tiên khoa học quốc gia. Tổng thống Bill Clinton đã ủng hộ việc tài trợ nghiên cứu về công nghệ mới này trong bài phát biểu tại Caltech vào ngày 21 tháng 1 năm 2000. Ba năm sau, Tổng thống George W.
Bush đã ký một đạo luật về Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ nano thế kỷ 21. Luật này đã góp phần giúp cho nghiên cứu về công nghệ nano là một ưu tiên quốc gia. Trong khoảng thời gian khoảng nửa thế kỷ, công nghệ nano đã trở thành nền tảng cho các ứng dụng công nghiệp nổi bật và tăng trưởng theo cấp số nhân. Ví dụ, trong dược phẩm, công nghệ nano đã có một tác động sâu sắc đến các thiết bị y tế như các cảm biến chẩn đoán sinh học, các hệ thống phân phối thuốc và các đầu dò hình ảnh.
Trong ngành công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm, việc sử dụng vật liệu nano đã tăng đáng kể cho việc cải tiến sản xuất , bao bì, tuổi thọ và sinh khả dụng. Ngày nay, công nghệ nano ảnh hưởng đến cuộc sống của con người mỗi ngày. Những lợi ích tiềm năng rất nhiều và đa dạng. Tuy nhiên, do sự tiếp xúc rộng rãi của con người với các hạt nano, có một mối quan tâm đáng kể về nguy cơ sức khoẻ và môi trường tiềm ẩn.
Những mối quan tâm này đã dẫn đến sự xuất hiện của các ngành khoa học bổ sung bao gồm độc tính của vật liệu nano (nanotoxicology) và công nghệ dược nano (nanomedicine). Một số lợi ích của các vật liệu nano y tế bao gồm cải thiện việc phân phối thuốc, lớp phủ kháng khuẩn của thiết bị y tế, giảm viêm, và phát hiện các tế bào ung thư. Tuy nhiên, do thiếu dữ liệu độc tính đáng tin cậy, khả năng ảnh hưởng đến sức khoẻ con người vẫn là mối quan tâm lớn [14]. Khái niệm công nghệ nano Công nghệ nano là ngành công nghệ liên quan đến việc thiết kế, phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng, kích thước trên quy mô nanomet (nm, 1 nm = 10−9 m).
Ranh giới giữa công nghệ nano và khoa học nano đôi khi không rõ ràng. Tuy nhiên, chúng đều có chung đối tượng là vật liệu nano. MSHV: 18803139 HVTH: Võ Thanh Trúc Luận Văn Thạc Sĩ 7 GVHD: TS. Nguyễn Thành Danh 1.
Cơ sở khoa học của công nghệ nano Có ba cơ sở khoa học để nghiên cứu công nghệ nano. - Chuyển tiếp từ tính chất cổ điển đến tính chất lượng tử Đối với vật liệu vĩ mô gồm rất nhiều nguyên tử, các hiệu ứng lượng tử được trung bình hóa với rất nhiều nguyên tử (1 µm3 có khoảng 1012 nguyên tử) và có thể bỏ qua các thăng giáng ngẫu nhiên. Nhưng các cấu trúc nano có ít nguyên tử hơn thì các tính chất lượng tử thể hiện rõ ràng hơn. Ví dụ một chấm lượng tử có thể được coi như một đại nguyên tử, nó có các mức năng lượng giống như một nguyên tử.
- Hiệu ứng bề mặt Khi vật liệu có kích thước nm, các số nguyên tử nằm trên bề mặt sẽ chiếm tỉ lệ đáng kể so với tổng số nguyên tử. Chính vì vậy các hiệu ứng có liên quan đến bề mặt, gọi tắt là hiệu ứng bề mặt sẽ trở nên quan trọng làm cho tính chất của vật liệu có kích thước nanomet khác biệt so với vật liệu ở dạng khối. - Kích thước tới hạn Các tính chất vật lý, hóa học của các vật liệu đều có một giới hạn về kích thước. Nếu vật liệu mà nhỏ hơn kích thước này thì tính chất của nó hoàn toàn bị thay đổi.
Người ta gọi đó là kích thước tới hạn. Vật liệu nano có tính chất đặc biệt là do kích thước của nó có thể so sánh được với kích thước tới hạn của các tính chất của vật liệu. Ví dụ điện trở của một kim loại tuân theo định luật Ohm ở kích thước vĩ mô mà ta thấy hàng ngày. Nếu ta giảm kích thước của vật liệu xuống nhỏ hơn quãng đường tự do trung bình của điện tử trong kim loại, mà thường có giá trị từ vài đến vài trăm nm, thì định luật Ohm không còn đúng nữa.
Lúc đó điện trở của vật có kích thước nano sẽ tuân theo các quy tắc lượng tử. Không phải bất cứ vật liệu nào có kích thước nano đều có tính chất khác biệt mà nó phụ thuộc vào tính chất mà nó được nghiên cứu. Các tính chất khác như tính chất điện, tính chất từ, tính chất quang và các tính chất hóa học khác đều có độ dài tới hạn trong khoảng nm. Chính vì thế mà người ta gọi ngành khoa học và công nghệ liên quan là khoa học nano và công nghệ nano.
MSHV: 18803139 HVTH: Võ Thanh Trúc Luận Văn Thạc Sĩ 8 GVHD: TS. Nguyễn Thành Danh 1. VẬT LIỆU NANO 1. Khái niệm vật liệu nano Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau.
Kích thước của vật liệu nano trải một khoảng khá rộng, từ vài nanomet đến vài trăm nanomet phụ thuộc vào bản chất vật liệu và tính chất cần nghiên cứu. Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng, sự can thiệp vào các vật liệu với quy mô nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Công nghệ nano là ngành công nghệ liên quan đến việc thiết kế, phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng, kích thước trên quy mô nanomet. Vật liệu nano là loại vật liệu có cấu trúc các hạt, các sợi, các ống, các tấm mỏng, v.có kích thước đặc trưng khoảng từ 1 nm đến 100 nm.
Phân loại vật liệu nano Về trạng thái của vật liệu, người ta phân chia thành ba trạng thái, rắn, lỏng và khí. Vật liệu nano được tập trung nghiên cứu hiện nay, chủ yếu là vật liệu rắn, sau đó mới đến chất lỏng và khí. Về hình dáng vật liệu, người ta phân ra thành các loại sau: - Vật liệu nano không chiều (cả ba chiều đều có kích thước nano, không còn chiều tự do nào cho điện tử), ví dụ: đám nano, hạt nano. - Vật liệu nano một chiều là vật liệu trong đó hai chiều có kích thước nano, điện tử được tự do trên một chiều (hai chiều cầm tù), ví dụ: dây nano, ống nano.
- Vật liệu nano hai chiều là vật liệu trong đó một chiều có kích thước nano, hai chiều tự do, ví dụ: màng mỏng. - Ngoài ra còn có vật liệu có cấu trúc nano hay nanocomposite trong đó chỉ có một phần của vật liệu có kích thước nm, hoặc cấu trúc của nó có nano không chiều, một chiều, hai chiều đan xen lẫn nhau. MSHV: 18803139 HVTH: Võ Thanh Trúc Luận Văn Thạc Sĩ 9 GVHD: TS. Nguyễn Thành Danh Về tính chất vật liệu được phân loại thành: - Vật liệu nano kim loại.
- Vật liệu nano bán dẫn. - Vật liệu nano từ tính. - Vật liệu nano sinh học. HẠT NANO KIM LOẠI 1.
Khái niệm hạt nano kim loại Hạt nano kim loại là một khái niệm để chỉ các hạt có kích thước nano từ 1 nanomet đến 100 nanomet được tạo thành từ các kim loại. Tính chất hạt nano kim loại Một trong những tính chất đặc trưng của nano kim loại là màu sắc của hạt nano phụ thuộc rất nhiều vào kích thước và hình dạng của chúng. Ví dụ, ánh sáng phản xạ lên bề mặt vàng ở dạng khối có màu vàng. Tuy nhiên, ánh sáng truyền qua lại có màu xanh nước biển hoặc chuyển sang màu da cam khi kích thước của hạt thay đổi.
Hiện tượng thay đổi màu sắc như vậy là do một hiệu ứng gọi là cộng hưởng plasmon bề mặt. Chỉ có các hạt nano kim loại, trong đó các điện tử tự do mới có hấp thụ ở vùng ánh sáng khả kiến làm cho chúng có hiện tượng quang học như trên. Ngoài tính chất trên, các hạt nano bạc còn được biết có khả năng diệt khuẩn. Hàng ngàn năm trước người ta thấy sữa để trong các bình bạc thì để được lâu hơn.
Ngày nay người ta biết đó là do bạc đã tác động lên enzym liên quan đến quá trình hô hấp của các sinh vật đơn bào.