CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về zeolit 1.1 Sơ lược lịch sử và sự phát triển của zeolit Zeolit bắt đầu được phát hiện vào năm 1756 đến nay đã hơn 3 thế kỷ. Năm 1756, Bronstedt là một nhà khoáng học người Thụy Điển đã phát hiện ra một loại khoáng mới với tên gọi là zeolit [13], theo tiếng Hy Lạp “Zeo”: sôi, “Lithot”: đá, vì vậy zeolit còn có nghĩa là đá sôi. Ông đã phát hiện được zeolit nhờ hơi nước thoát ra khi nung khoáng này.
Tuy nhiên mãi đến thế kỷ sau zeolit mới bắt đầu được nghiên cứu kỹ ở phòng thí nghiệm. Vào năm 1932, Mac Bai đã làm rõ hiệu ứng “Rây phân tử” [14], khi ông nghiên cứu về chacbazit một loại zeolit có tác dụng như một rây phân tử có khả năng hấp phụ chọn lọc các phân tử nhỏ có kích thước dưới 5Ao. Bắt đầu từ thời điểm đó các loại zeolit được phục vụ cho công nghiệp. Đến năm 1956 người ta mới tổng hợp được các loại zeolit đầu tiên.
Vào những năm cuối thế kỷ XX này sự hiểu rõ về zeolit tương đối sâu rộng. Đến nay đã có hơn 35 loại zeolit tự nhiên được tìm thấy và rất nhiều zeolit tổng hợp được ra đời [5]. Việc nghiên cứu các mặt zeolit ngày càng tăng. Hiện nay đã có khoảng hơn 15.000 công trình đã công bố và hơn 10.000 phát minh sáng kiến về tổng hợp zeolit cả về cấu trúc và ứng dụng nó.
Đặc biệt riêng trong năm 2000 đến nay đã có hơn 1060 loại zeolit tổng hợp mới ra đời. Như vậy, zeolit có tầm quan trọng lớn lao trong khoa học và kỹ thuật. Trong tất cả các loại zeolit hiện có, người ta đã biết rõ thành phần, tính chất ứng dụng, cấu trúc mạng tinh thể của nhiều loại zeolit tự nhiên và zeolit tổng hợp như: zeolit A, zeolit Y, zeolit X, zeolit ZSM-5, zeolit ZSM-11… 1.2 Giới thiệu về zeolit 1.1 Khái niệm về zeolit Zeolit là các khoáng aluminosilicat tinh thể có mặt trong tự nhiên. Chúng được xếp vào nhóm Tectosilicat có cấu trúc không gian ba chiều với hệ thống lỗ 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xốp được sắp xếp một cách trật tự.
Hệ mao quản trong zeolit có kích thước cỡ phân tử, dao động trong khoảng 3 ÷ 12Å [11].2 Cấu trúc, thành phần và hình thái zeolit a, Cấu trúc và thành phần Zeolit là một loại chất rắn xốp, được đặc trưng bởi cấu trúc tinh thể bao gồm: - Khung 3 chiều được hình thành bởi các liên kết TO4 (T là Si, Al…). Mỗi nguyên tử oxy được dùng chung cho 2 nguyên tử T. - Các mao quản, lỗ trống với kích thước phân tử có thể chứa các cation điện tích bù, nước, muối và các phân tử khác. Cấu trúc tinh thể zeolit: Khoáng zeolit mordenite & zeolit L Zeolit là hợp chất polyhydrat của tinh thể aluminosilicat – tectosilicat.
Công thức đơn vị cấu trúc của zeolit được đưa ra bởi Gottardi (1978) [16]: (Men+)x/n(AlO2)x(SiO2)y.zH2O Trong đó: Me - ion kim loại n - điện tích của ion kim loại x,y - số nhóm AlO2, SiO2 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com z - Số phân tử nước trong đơn vị cơ sở ( khoảng từ 1 12 ) Tỷ số x/y 2 là sự thay đổi đối với từng loại zeolit cho phép xác định thành phần và cấu trúc của từng loại. Mordenit tổng hợp có x 10. Đặc biệt các zeolit họ pentasit có x=201000. Riêng đối với zeolit ZSM-5 được tổng hợp dùng chất cấu trúc có 7x200 [16].
Gần đây người ta đã tổng hợp được các loại zeolit có thành phần đa dạng có tỷ lệ mol SiO2/Al2O3 cao, thậm chí có những loại cấu trúc tương tự zeolit mà hoàn toàn không chứa các nguyên tử nhôm như các silicatic…Các zeolit tự nhiên cũng như zeolit tổng hợp đều có cấu trúc không gian ba chiều, được hình thành từ các đơn vị sơ cấp là các tứ diện TO4 (T: Al, Si). Trong mỗi tứ diện TO4, cation T được bao quanh bởi 4 ion O2- và mỗi tứ diện liên kết với 4 tứ diện quanh nó bằng cách ghép chung các nguyên tử oxy ở đỉnh. Khác với tứ diện SiO4 trung hòa về điện, mỗi một nguyên tử Al phối trí tứ diện trong AlO4- còn thừa một điện tích âm. Vì vậy, khung mạng zeolit tạo ra mạng điện tích âm và cần được bù trừ bởi các cation kim loại Mn+ nằm ngoài mạng gọi là cation bù trừ điện tích khung.
Đơn vị cấu trúc cơ bản của zeolit là các tứ diện TO4: [AlO4]- và [SiO4]. Tâm của tứ diện này là các nguyên tử Al hoặc Si, hình 1.2 biểu diễn cấu trúc cơ bản của zeolit. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đơn vị cấu trúc cơ bản của zeolit: Tứ diện SiO4, AlO4- Các tứ diện TO4 liên kết theo một trật tự nhất định sẽ tạo ra các đơn vị cấu trúc thứ cấp (SBU) khác nhau.
Các đơn vị cấu trúc thứ cấp này là các vòng 4, 6, 8 cạnh hoặc phức tạp hơn (Hình 1. Mỗi cạnh trong SBU biểu thị một liên kết cầu T – O – T [20]. Góc liên kết T – O – T thay đổi từ 130– 170. Góc liên kết phụ thuộc vào cấu trúc tinh thể, độ dài liên kết T – O và ảnh hưởng đến sự phân bố điện tích trong khung zeolit, nên có thể làm thay đổi một số đặc tính của zeolit.
Các đơn vị có cấu trúc thứ cấp (SBU) trong zeolit 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các SBU kết hợp lại với nhau sẽ tạo nên các họ zeolit với 85 kiểu cấu trúc với các hệ thống mao quản khác nhau [6].4 mô tả sự ghép nối các đơn vị cấu trúc sơ cấp và thứ cấp khác nhau tạo ra zeolit A và zeolit X (Y) [7]. Bảng 1 thống kê các dữ liệu cấu trúc cơ bản của một số zeolit thông dụng [11]. Ví dụ, zeolit Na-A thuộc nhóm 3, được cấu tạo bởi các đơn vị cấu trúc thứ cấp 4-4, 4, 8, 6-2. Trong khi đó, zeolit Na-X (Y) thuộc nhóm 4 và được cấu tạo bởi các đơn vị cấu trúc thứ cấp 6-6, 4, 6, 6-2.
Cấu trúc các đơn vị cơ sở của zeolit Bảng 1. Dữ liệu cấu trúc cơ bản của một số zeolit thông dụng [1] Zeolit Nhóm SBU Đường kính mao quản Na-A 3 4-4(*), 4, 8, 6-2 4,1 ; 2,3(**) Na-P1 1 4(*), 8 3,1 × 4,5 ; 2,8 × 4,8 Na-X(Y) 4 6-6(*), 4, 6, 6-2 7,4 ; 2,2(**) Mordenit 6 5-1 6,5 × 7,0 ; 2,6 × 5,7 ZSM-5 6 5-1 5,3 × 5,6 ; 5,1 × 5,5 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (*) Các SBU thường gặp. (**) Đường kính mao quản thứ cấp. Trong zeolit thì tỷ lệ Si/Al đóng vao trò quan trọng, tỷ lệ này có thể thay đổi trong khoảng rộng tùy thuộc vào thành phần và cấu trúc của zeolit, ứng với mỗi tỷ lệ Al/Si là một sự khác nhau về thông số mạng lưới của zeolit [6].Nguyên nhân chính là do khoảng cách Si – O (r=1,619 Ao) và Al – O (r=1,729 Ao) khác nhau.
Quy luật Lowenstin chỉ ra rằng, trong cấu trúc zeolit không tồn tại liên kết Al-O-Al mà chỉ có dạng liên kết Si-O-Si hoặc Si-O-Al, do đó tỷ lệ Si/Al trong khung cấu trúc đều lớn hơn hoặc bằng 1. Các zeolit được khử nước có khả năng hấp phụ rất cao các phân tử có kích thước nhỏ hơn đường kính lỗ mao quản của chúng và có khả năng giữ lại các phân tử có kích thước lớn hơn (hiệu ứng sàng lọc phần tử). b, Hình thái zeolit Hình thái của các zeolit phổ biến trong đất và trầm tích là rất đặc trưng, tuy nhiên các tinh thể lại có kích thước tương đối nhỏ (thường có đường kính <10µm) và có thể quan sát khá dễ dàng trên kính hiển vi điện tử quét [8]. Nhưng lại có một số loại zeolit có hình thái tương đối giống nhau và chỉ có thể phân biệt bằng các phương pháp phân tích tinh vi.
Hình thái điển hình của một vài loại zeolit: clinoptilolit và heulandit thường có dạng hình đĩa hay que, mordenit thường có dạng các sợi mảnh và chabazit có dạng các khối lập phương. Erionit và phillipsit thường có mặt trong môi trường ở dạng các hình lăng trụ. Analcim có mặt trong tự nhiên ở dạng cầu.5 thể hiện hình thái đặc trưng của một số loại zeolit. Hình thái của một số zeolit: (a) clinoptilolit, (b) mordenit, (c) phillipsit, (d) analcime 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Phân loại zeolit Phân loại theo điều kiện hình thành (nguồn gốc): Zeolit tự nhiên: thường kém bền và do thành phần hoá học biến đổi đáng kể.
Trong tự nhiên các zeolit luôn có xu hướng chuyển sang các pha khác bền hơn như analcime hay feldspar theo chu kỳ biến đổi địa chất lâu dài. Mặc dù có hơn 40 loại và được kết tinh tốt, nhưng do thành phần hóa học không có độ tinh khiết cần thiết nên có một số rất ít zeolit tự nhiên có ứng dụng thực tế như: analcime, chabazite, mordenite… Chúng phù hợp với các ứng dụng cần khối lượng lớn, không yêu cầu khắt khe về độ tinh khiết. Zeolit tổng hợp: như zeolit A, zeolit X, zeolit Y, zeolit ZSM-5, ZSM- 11. Có cấu trúc tương đối đồng nhất, có độ tinh khiết cao, có nhiều tính năng ưu việt hơn so với zeolit tự nhiên như: độ bền, thành phẩm, khả năng hấp phụ, tính xúc tác.
Phân loại theo thành phần hóa học: Zeolit nghèo silic: là loại zeolit có tỉ số SiO2/Al2O3 1, zeolit này có dung tích trao đổi ion cực đại vì lượng ion bù trừ là cực đại. Theo quy luật Lowenstein xác định rằng: Trong cấu trúc zeolit hai nguyên tử Al không thể tồn tại lân cận nhau. Nghĩa là trong cấu trúc zeolit không thể tồn tại các liên kết Al-O-Al, mà chỉ tồn tại các liên kết -Si-O-Si- và -Si-O-Al-. Do vậy, tỷ số SiO2/Al2O3 là giới hạn dưới không có tỷ số SiO2/Al2O3 < 1.
Khi tỷ số này gần 2 thì zeolit được coi là giàu nhôm. Ví dụ: zeolit A – Na12Al12Si12O48.27H2O (Si/Al = 1), zeolit X Zeolit có hàm lượng silic trung bình: Có tỷ lệ Si/Al từ 2 ÷ 5, so với zeolit nghèo silic thì zeolit này bền nhiệt hơn. Ví dụ : mordenit (Si/Al = 5), zeolit Y, zeolit L, zeolit tự nhiên… Zeolit giàu silic: Loại này tương đối bền nhiệt nên được sử dụng trong nhiều quá trình xúc tác có điều kiện khắc nghiệt, đó là các zeolit thuộc họ ZSM, tỉ lệ (SiO2/Al2O3) = 20 200, đường kính mao quản từ 5,1Ao đến 5,7Ao, cấu trúc khung của ZSM thường có khoảng 10 nguyên tử Al tương ứng với 1000 nguyên tố Si 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong mạng. Ngoài ra có rất nhiều zeolit tổng hợp khác có tỉ số Si/Al cao được tổng hợp nhờ sự có mặt của chất tạo khuôn cấu trúc (Template) họ amin bậc 4: R4N+.