Tổng quan nghiên cứu

Hơn 20.000 hợp chất có hoạt tính sinh học đã được phân lập từ các loài sinh vật biển trên toàn thế giới, mở ra tiềm năng to lớn cho ngành công nghiệp hóa dược hiện đại. Trong số đó, Hemiasterlin là một tripeptid tự nhiên đặc biệt quý hiếm được phân lập lần đầu tiên vào năm 1994 từ loài hải tiêu Hemiasterella minor. Tuy nhiên, trữ lượng của hợp chất này trong tự nhiên cực kỳ thấp, chỉ chiếm khoảng 0,01% khối lượng mẫu khô, khiến việc khai thác trực tiếp từ sinh khối biển không thể đáp ứng nhu cầu thử nghiệm tiền lâm sàng. Về mặt dược lý, Hemiasterlin thể hiện khả năng gây độc tế bào vượt trội với giá trị IC50 đạt 19 nM trên dòng tế bào ung thư máu P388 leukaemia thông qua cơ chế ức chế trùng hợp tubulin tại vị trí gắn kết Vinca alkaloid, làm ngưng trệ chu kỳ tế bào ở pha metaphase với khoảng liều hiệu dụng ED50 từ 0,5 nM đến 28 nM, tương đương các hoạt chất chống ung thư kinh điển như paclitaxel hay vinblastin.

Rào cản lớn nhất của Hemiasterlin tự nhiên nằm ở cấu trúc phân tử phức tạp gồm ba amino acid dị biệt, trong đó cấu phần Block 1 chứa tâm bất đối và nhóm alpha,alpha-dimethylbenzylic đòi hỏi tới 15 bước tổng hợp riêng biệt với hiệu suất tích lũy thấp. Trước thách thức đó, mục tiêu của luận văn là nghiên cứu thiết kế và tổng hợp các mạch nhánh mới nhằm đơn giản hóa cấu trúc Hemiasterlin. Trọng tâm nghiên cứu là thay thế Block 1 nguyên bản bằng nhân furan mang hệ liên hợp alpha,beta-carbonyl đóng vai trò làm trung tâm nhận ái nhân (Michael acceptor) để alkyl hóa ADN và ARN của tế bào ung thư, đồng thời bảo tồn cấu hình lập thể chuẩn của Block 2 và Block 3 để ghép nối tạo ra dẫn xuất tripeptid 110 mục tiêu. Đề tài được hoàn thành tại Phòng thí nghiệm Hóa Dược thuộc Viện Hóa học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN trong giai đoạn 2012-2013, làm chủ thành công chuỗi 10 phản ứng chuyển hóa với hiệu suất từng bước đạt từ 50% đến 94%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp của ba khung lý thuyết và mô hình hóa học chuyên sâu:

Thứ nhất là lý thuyết ức chế động học tubulin và liên kết thụ thể Vinca alkaloid. Mô hình dược động học chỉ ra rằng các tripeptid tương đồng Hemiasterlin liên kết đặc hiệu với vi ống tubulin nhờ các tương tác van der Waals từ nhóm tert-butyl ở Block 2 và nhóm isopropyl ở Block 3, ngăn cản sự hình thành thoi phân bào và kích hoạt con đường tự chết apoptosis của tế bào ác tính.

Thứ hai là lý thuyết cộng hợp ái nhân Michael trên hệ carbonyl alpha,beta-không no. Việc chuyển đổi cấu trúc phức tạp của Block 1 sang khung furan chứa liên kết đôi liên hợp mang lại khả năng phản ứng ái điện tử mạnh mẽ, sẵn sàng tạo liên kết cộng hóa trị bền vững với các gốc nucleophile nội bào nhằm phá hủy cấu trúc acid nucleic ở nồng độ nanomol.

Thứ ba là lý thuyết tổng hợp bất đối xứng chiral pool kết hợp phản ứng tạo liên kết đôi Wittig chọn lọc lập thể. Các khái niệm cốt lõi bao gồm kỹ thuật tạo dẫn xuất Weinreb amid để kiểm soát phản ứng khử chọn lọc về andehit, phản ứng ngưng tụ Erlenmeyer tạo khung azlacton đa vòng, và phương pháp bảo vệ/giải bảo vệ nhóm chức amin bằng tác nhân Boc2O và axit trifluoroacetic.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu và thực nghiệm: Nghiên cứu triển khai thực nghiệm tổng hợp hữu cơ đa bước liên hoàn gồm 10 phản ứng chuyển hóa. Cỡ mẫu thực nghiệm cho mỗi mẻ phản ứng được định lượng nghiêm ngặt từ 150 mg đối với các phản ứng ghép chuỗi peptid quý đến 5,0 g đối với các phản ứng điều chế nguyên liệu đầu như acetyl glyxin 98.

Phương pháp chọn mẫu: Toàn bộ hóa chất, dung môi và xúc tác được lựa chọn đạt tiêu chuẩn phân tích tinh khiết trên 98% từ các hãng uy tín thế giới là Merck và Aldrich. Để bảo toàn cấu hình lập thể tuyệt đối (S) tại tâm bất đối của Block 2 và Block 3 mà không cần qua quy trình phân giải quang học tốn kém, tác giả sử dụng nguồn nguyên liệu thiên nhiên chiral pool gồm L-valin (101a) và L-tert-leucin (106a) với độ tinh khiết quang học ban đầu đạt 100%.

Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Tiến trình phản ứng và độ tinh khiết của các chất được kiểm soát liên tục bằng sắc ký lớp mỏng (SKLM) trên bản nhôm tráng silicagel Alufolien Kiesel 60 F254 dựa trên sự sai biệt hệ số lưu giữ Rf. Việc tinh chế các hợp chất trung gian được thực hiện qua sắc ký cột silicagel pha thường (kích thước hạt 100-200 mesh) nhằm tối ưu hóa độ thu hồi. Cấu trúc hóa học và cấu hình không gian được xác định bằng hệ thống thiết bị đo điểm nóng chảy Gallenkamp, phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR (500 MHz) và 13C-NMR (125 MHz) trên máy Bruker XL-500, cùng phổ khối lượng MS trên các hệ thống HP 5989 và LC-MSD-Trap-SL. Nghiên cứu được thực hiện liên tục trong thời gian 12 tháng tại Viện Hóa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng hợp thành công dẫn xuất Block 1 mới (hợp chất amid 100) qua 3 giai đoạn tinh gọn: điều chế acetyl glyxin 98 đạt hiệu suất 65% (thu được 5,32 g từ 5,0 g glyxin), phản ứng ngưng tụ Erlenmeyer tạo azlacton 99 đạt hiệu suất 80% (thu được 1,21 g từ 1,0 g 2-furandehit), và phản ứng thủy phân chọn lọc mở vòng azlacton tạo thành hợp chất 100 đạt hiệu suất 72% (thu được 0,79 g) với điểm nóng chảy xác định tại 185-186°C cùng tín hiệu phổ 13C-NMR đặc trưng của hai nhóm carbonyl ở 170,6 ppm và 166,2 ppm.

Thứ hai, thiết lập thành công chuỗi phản ứng điều khiển chọn lọc lập thể tạo Block 3 (hợp chất 105) từ L-valin qua 5 bước: bảo vệ nhóm amin tạo dẫn xuất 101 đạt hiệu suất 72% (2,0 g); amid hóa tạo Weinreb amid 102 đạt hiệu suất 86% (1,54 g); khử hóa chọn lọc bằng LiAlH4 ở 0°C tạo andehit 103 đạt hiệu suất 78% (252 mg); phản ứng Wittig tạo dẫn xuất E-olefin 104 đạt hiệu suất 86% (364,8 mg); và giải bảo vệ nhóm Boc bằng TFA thu được amin 105 với hiệu suất 77% (298,8 mg).

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình bảo vệ nhóm amin của Block 2 (L-tert-leucin) bằng Boc2O trong môi trường kiềm nhẹ tạo tiền chất 106 với hiệu suất cao đạt 81% (thu được 2,15 g).

Thứ tư, hoàn thành chuỗi ghép nối đa peptid và thủy phân tạo dẫn xuất Hemiasterlin mục tiêu 110: phản ứng ghép nối Block 2 (106) với Block 3 (105) nhờ hệ tác nhân EDC/HOBt thu được dipeptid 107 với hiệu suất 73% (391,25 mg); loại bỏ nhóm Boc tạo amin 108 đạt hiệu suất 78% (322,3 mg); ghép tiếp hợp chất Block 1 (100) với dipeptid 108 thu được tripeptid este 109 với hiệu suất 50% (198,8 mg); và cuối cùng thủy phân chọn lọc nhóm este của chất 109 bằng LiOH trong hỗn hợp MeOH/H2O tỷ lệ 2:1 tạo ra dẫn xuất tripeptid Hemiasterlin 110 với hiệu suất xuất sắc đạt 94% (thu được 264,8 mg).

Thảo luận kết quả

Thành công của toàn bộ quy trình tổng hợp xuất phát từ việc kiểm soát chặt chẽ các tác nhân và điều kiện nhiệt độ phản ứng. Việc ứng dụng cấu trúc Weinreb amid 102 đã ngăn chặn triệt để phản ứng khử sâu về ancol bậc một, duy trì hiệu suất tạo andehit 103 đạt 78%. Bên cạnh đó, phản ứng Wittig với ethyl 2-(triphenylphosphoranylidene)propanoate thể hiện tính chọn lọc lập thể E-olefin tuyệt đối, được khẳng định bằng tín hiệu proton olefin trên phổ 1H-NMR tại độ chuyển dịch hóa học 6,51 ppm với hằng số tương tác spin-spin đặc trưng J = 1,5 và 9,5 Hz.

So với các công trình kinh điển của Andersen và Piers (1997) vốn đòi hỏi 15 bước tổng hợp đơn lẻ cho riêng phần Block 1 với hiệu suất tổng thể dưới 10%, giải pháp mở vòng chọn lọc azlacton furan trong luận văn này đã rút ngắn xuống còn 3 bước với hiệu suất tích lũy đạt khoảng 37,4%. Sự đơn giản hóa cấu trúc này không chỉ hạ thấp chi phí tổng hợp mà còn tích hợp hệ liên hợp alpha,beta-không no làm tâm ái điện tử mới.

Dữ liệu thực nghiệm của 10 bước chuyển hóa được mô hình hóa qua bảng tổng hợp tham số động học và biểu đồ cột biểu diễn hiệu suất phân lập, đồng thời các phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR và 13C-NMR được lập bảng đối chiếu tương quan độ dịch chuyển hóa học (ppm) giúp nhận diện rõ ràng từng vị trí nguyên tử trong phân tử.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tối ưu hóa quy trình ghép nối tripeptid: Tiến hành khảo sát các hệ tác nhân hoạt hóa liên kết peptid thế hệ mới như HATU hoặc PyBOP nhằm nâng cao hiệu suất phản ứng ghép giữa Block 1 (100) và dipeptid 108 từ mức 50% hiện tại lên mục tiêu trên 75% trong khung thời gian 6 tháng tới do nhóm nghiên cứu Hóa Dược đảm nhiệm.

Thứ hai, triển khai sàng lọc hoạt tính sinh học in vitro: Đẩy mạnh các thử nghiệm gây độc tế bào trên các dòng tế bào ung thư kháng thuốc gồm KB-3-1, KB-8-5, KB-V1 và P388 leukaemia nhằm xác định giá trị IC50 mục tiêu đạt ngưỡng dưới 50 nM trong vòng 12 tháng bởi Viện Hóa học phối hợp cùng các trung tâm công nghệ sinh học.

Thứ ba, mở rộng thư viện dẫn xuất Block 1: Tổng hợp bổ sung từ 5 đến 8 dẫn xuất mang các dị vòng khác như thiophen, pyridin hoặc thiazol chứa hệ liên hợp alpha,beta-không no trong vòng 18 tháng để thiết lập mối quan hệ định lượng giữa cấu trúc và hoạt tính sinh học (QSAR).

Thứ tư, chuẩn hóa quy trình điều chế ở quy mô lớn hơn: Nâng quy mô tổng hợp từ mức milligram lên mức pilot từ 50 g đến 100 g mỗi mẻ phản ứng với độ tinh khiết sản phẩm đạt trên 99% trong thời hạn 24 tháng bởi các cơ sở nghiên cứu và phát triển dược phẩm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hóa hữu cơ, Hóa dược: Luận văn cung cấp quy trình thực nghiệm chuẩn mực về tổng hợp bất đối xứng chiral pool, phương pháp tổng hợp Weinreb amid và kỹ thuật ghép chuỗi peptid đa bước.

Thứ hai, các nhà khoa học và dược sĩ nghiên cứu phát triển thuốc chống ung thư: Tài liệu mang lại hướng tiếp cận mới trong thiết kế phân tử kháng u đa cơ chế kết hợp giữa ức chế trùng hợp tubulin và alkyl hóa acid nucleic.

Thứ ba, giảng viên và cán bộ nghiên cứu tại các trường đại học chuyên ngành Hóa học - Y Dược: Có thể sử dụng dữ liệu luận văn làm tài liệu giảng dạy chuyên đề về phản ứng Wittig chọn lọc lập thể, phản ứng ngưng tụ Erlenmeyer và phân tích phổ cấu trúc NMR/MS.

Thứ tư, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hóa dược phẩm: Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá tính khả thi công nghệ và chi phí tổng hợp nhằm định hướng thương mại hóa các dẫn xuất peptid có hoạt tính sinh học cao.

Câu hỏi thường gặp

Hemiasterlin có nguồn gốc từ đâu và tại sao cần phải tổng hợp hóa học?
Hemiasterlin là tripeptid tự nhiên được phân lập từ loài hải tiêu sinh vật biển Hemiasterella minor vào năm 1994. Do hàm lượng tự nhiên cực kỳ thấp, chỉ chiếm khoảng 0,01% khối lượng mẫu khô, việc khai thác tự nhiên không thể đáp ứng nhu cầu nghiên cứu dược lý. Do đó, tổng hợp hóa học là phương thức duy nhất để cung cấp đủ lượng mẫu cho các thử nghiệm sinh học.

Điểm cải tiến nổi bật nhất của cấu trúc Block 1 trong luận văn là gì?
Thay cho nhóm alpha,alpha-dimethylbenzylic cồng kềnh khó tổng hợp ở phân tử tự nhiên, Block 1 trong nghiên cứu được biến tính thành nhân furan chứa hệ liên hợp alpha,beta-carbonyl. Cải tiến này giúp rút ngắn quy trình tổng hợp từ 15 bước xuống còn 3 bước với hiệu suất tích lũy đạt khoảng 37,4%, đồng thời tạo trung tâm ái điện tử phản ứng Michael alkyl hóa ADN tế bào ung thư.

Lập thể E-olefin của Block 3 được kiểm soát bằng phương pháp nào?
Nghiên cứu ứng dụng phản ứng Wittig giữa andehit 103 và tác nhân ethyl 2-(triphenylphosphoranylidene)propanoate ở nhiệt độ 0°C trong dung môi CH2Cl2 để điều khiển chọn lọc tuyệt đối cấu hình E-olefin. Phổ 1H-NMR khẳng định sản phẩm 104 thu được đạt hiệu suất cao 86% với độ chuyển dịch proton olefin đặc trưng tại 6,51 ppm cùng hằng số tương tác spin-spin J = 1,5 và 9,5 Hz.

Các block peptid được ghép nối bằng hệ tác nhân nào và hiệu suất ra sao?
Quá trình tạo liên kết peptid sử dụng hệ tác nhân EDC và HOBt kết hợp bazơ hữu cơ i-PrNEt trong dung môi DMF ở nhiệt độ phòng. Phản ứng ghép nối giữa Block 2 (106) và Block 3 (105) tạo dipeptid 107 đạt hiệu suất 73% (391,25 mg), và phản ứng ghép Block 1 (100) với dipeptid 108 tạo tripeptid 109 đạt hiệu suất 50% (198,8 mg).

Hiệu suất tổng hợp của dẫn xuất Hemiasterlin mục tiêu (chất 110) đạt mức bao nhiêu?
Dẫn xuất tripeptid mục tiêu 110 được tạo thành thông qua phản ứng thủy phân chọn lọc chức este của hợp chất 109 bằng dung dịch LiOH trong hệ dung môi MeOH/H2O (tỷ lệ thể tích 2:1) ở nhiệt độ phòng trong 10 giờ. Phản ứng đạt hiệu suất rất cao lên tới 94%, thu được 264,8 mg sản phẩm tinh khiết sau khi tinh chế bằng sắc ký cột silicagel.

Kết luận

  • Tổng hợp thành công Block 1 cải tiến (hợp chất 100) mang nhân furan chứa hệ liên hợp alpha,beta-không no qua 3 bước phản ứng với hiệu suất mở vòng azlacton đạt 72%.
  • Xây dựng thành công quy trình tổng hợp chọn lọc lập thể Block 3 (hợp chất 105) từ L-valin thông qua Weinreb amid (hiệu suất 86%) và phản ứng Wittig tạo E-olefin (hiệu suất 86%).
  • Chuẩn hóa quy trình bảo vệ nhóm amin của Block 2 từ L-tert-leucin (hợp chất 106) đạt hiệu suất phân lập 81%.
  • Thực hiện thành công chuỗi phản ứng ghép nối peptid tạo dipeptid 107 (hiệu suất 73%) và tripeptid este 109 (hiệu suất 50%) nhờ hệ tác nhân EDC/HOBt.
  • Hoàn thiện phản ứng thủy phân chọn lọc tạo dẫn xuất tripeptid Hemiasterlin mục tiêu (hợp chất 110) với hiệu suất ấn tượng đạt 94% và cấu trúc được khẳng định qua hệ thống phổ NMR 500 MHz.

Đóng góp chính của luận văn là đã đề xuất và chứng minh thành công con đường tổng hợp mạch nhánh Hemiasterlin tinh gọn, giảm thiểu số bước phản ứng từ 15 bước xuống chuỗi chuyển hóa tối ưu, mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các dẫn xuất chống ung thư đa cơ chế. Kế hoạch tiếp theo trong vòng 12 đến 24 tháng tới là hoàn thành các thử nghiệm độc tính tế bào in vitro và nâng quy mô tổng hợp lên mức 50 g đến 100 g. Các cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp hóa dược quan tâm đến hướng phát triển thuốc trúng đích hãy liên hệ khai thác toàn diện tài liệu luận văn này để thúc đẩy ứng dụng thực tiễn.