Đặt vấn đề Tóm tắt văn bản đã trở thành một công cụ quan trọng và hữu ích để hỗ trợ và trích chọn thông tin văn bản trong thời đại thông tin phát triển nhanh chóng ngày nay. Tóm tắt văn bản thủ công (được thực hiện bởi con người) đôi khi là một nhiệm vụ khó khăn khi phải làm việc với một văn bản lớn, chứa nhiều thông tin. Về phương pháp tóm tắt, hiện nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu áp dụng các phương pháp tóm tắt khác nhau : phương pháp TF-IDF , phương pháp phân cụm (Cluster based), phương pháp tiếp cận máy học, phương pháp phân tích ngữ nghĩa tiềm ẩn (LSA), mạng nhân tạo(neural networks), phương pháp Logic mờ (fuzzy logic), phương pháp hồi quy toán học (Mathematical regression), phương pháp dựa trên truy vấn (Query based). Trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu tạo tóm tắt tự động văn bản tiếng Anh, tiếng Việt, .2 Phân loại bài toán tóm tắt Hiện nay có một số cách để phân loại tóm tắt văn bản, tùy thuộc vào mục đích sử dụng mà chúng ta chọn cách phân loại khác nhau, nhưng những cách phân loại này chỉ là tương đổi chưa có một cơ sở nào là chắc chắn.
Ở đây, luận văn đề cập đến phân loại tóm tắt dựa trên 3 cơ sở là: dựa vào định dạng, nội dung đầu vào, dựa vào định dạng, nội dung đầu ra, dựa vào mục đích tóm tắt. • Tóm tắt dựa trên cơ sở định dạng, nội dung đầu vào sẽ trả lời cho câu hỏi “Cái gì sẽ được tóm tắt”. Cách chia này sẽ cho ta nhiều cách phân loại con khác nhau. Cụ thể như: - Kiểu văn bản (bài báo, bản tin, thư, báo cáo …).
Với cách phân loại này, tóm tắt văn bản là bài báo sẽ khác với tóm tắt thư, tóm tắt báo cáo khoa học do những đặc trưng văn bản quy định. - Định dạng văn bản: dựa vào từng định dạng văn bản khác nhau, tóm tắt cũng chia ra thành các loại khác nhau như: tóm tắt văn bản không theo khuôn mẫu (free-form) hay tóm tắt văn bản có cấu trúc. Với văn bản có cấu trúc, tóm tắt văn bản thường sử dụng một mô hình học dựa vào mẫu cấu trúc đã xây dựng từ trước để tiến hành tóm tắt. - Số lượng dữ liệu đầu vào: tùy vào số lượng đầu vào của bài toán tóm tắt, người ta cũng có thể chia tóm tắt ra thành tóm tắt đa văn bản, tóm tắt đơn văn bản.
Tóm tắt đơn văn bản khi đầu vào chỉ là một văn bản đơn, trong khi đó đầu vào của tóm tắt đa văn bản là một tập các tài liệu có liên quan đến nhau như: các tin tức có liên quan đến cùng một sự kiện, các trang web cùng chủ đề hoặc là cụm dữ liệu được trả về từ quá trình phân cụm. 10 - Miền dữ liệu: dựa vào miền của dữ liệu như cụ thể về một lĩnh vực nào đó, ví dụ như: y tế, giáo dục… hay là miền dữ liệu tổng quát, có thể chia tóm tắt ra thành từng loại tương ứng. • Tóm tắt trên cơ sở mục đích thực chất là làm rõ cách tóm tắt, mục đích tóm tắt là gì, tóm tắt phục vụ đối tượng nào. - Nếu phụ thuộc vào đối tượng đọc tóm tắt thì tóm tắt cho chuyên gia khác cách tóm tắt cho các đối tượng đọc thông thường.
- Tóm tắt sử dụng trong tìm kiếm thông tin (IR) sẽ khác với tóm tắt phục vụ cho việc sắp xếp. - Dựa trên mục đích tóm tắt, còn có thể chia ra thành tóm tắt chỉ thị (Indicative) và tóm tắt thông tin (Informative). Tóm tắt chỉ thị (indicative) chỉ ra loại của thông tin, ví dụ như là loại văn bản chỉ thị “tối mật”. Còn tóm tắt thông tin chỉ ra nội dung của thông tin.
- Tóm tắt trên cơ sở truy vấn (Query-based) hay tóm tắt chung (General). Tóm tắt general mục đích chính là tìm ra một đoạn tóm tắt cho toàn bộ văn bản mà nội dung của đoạn văn bản sẽ bao quát toàn bộ nội dung của văn bản đó. Tóm tắt trên cơ sở truy vấn thì nội dung của văn bản tóm tắt sẽ dựa trên truy vấn của người dùng hay chương trình đưa vào, loại tóm tắt này thường được sử dụng trong quá trình tóm tắt các kết quả trả về từ máy tìm kiếm. • Tóm tắt trên cơ sở đầu ra cũng có nhiều cách phân loại.
- Dựa vào ngôn ngữ: Tóm tắt cũng có thể phân loại dựa vào khả năng tóm tắt các loại ngôn ngữ: • Tóm tắt đơn ngôn ngữ (Monolingual): hệ thống có thể tóm tắt chỉ một loại ngôn ngữ nhất định như: tiếng Việt hay tiếng Anh… • Tóm tắt đa ngôn ngữ (Multilingual): hệ thống có khả năng tóm tắt nhiều loại văn bản của các ngôn ngữ khác nhau, tuy nhiên tương ứng với văn bản đầu vào là ngôn ngữ gì thì văn bản đầu ra cũng là ngôn ngữ tương ứng. • Tóm tắt xuyên ngôn ngữ (Cross Lingual): hệ thống có khả năng đưa ra các văn bản đầu ra có ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của văn bản đầu vào. • Dựa vào định dạng đầu ra của kết quả tóm tắt: văn bản, đoạn, từ khóa. • Ngoài hai cách phân loại trên, phân loại tóm tắt trên cơ sở đầu ra còn có một cách phân loại được sử dụng phổ biến là: tóm tắt theo trích xuất (Extract) và tóm tắt theo tóm lược (Abstract).
• Tóm tắt theo trích xuất: là tóm tắt có kết quả đầu ra là một tóm tắt bao gồm toàn bộ các phần quan trọng được trích ra từ văn bản đầu vào. • Tóm tắt theo tóm lược: là tóm tắt có kết quả đầu ra là một tóm tắt không giữ nguyên lại các thành phần của văn bản đầu vào mà dựa vào thông tin quan trọng để viết lại một văn bản tóm tắt mới. Hiện nay, các hệ thống sử dụng tóm tắt theo trích xuất được sử dụng phổ biến và cho kết quả tốt hơn tóm tắt theo tóm lược. Nguyên nhân tạo ra sự khác biệt này là do các vấn đề 11 trong bài toán tóm tắt theo tóm lược như: biểu diễn ngữ nghĩa, suy luận và sinh ra ngôn ngữ tự nhiên được đánh giá là khó và chưa có nhiều kết quả nghiên cứu khả quan hơn so với hướng trích xuất câu của bài toán tóm tắt theo trích xuất.
Trong thực tế, theo đánh giá của Dragomir R. Radev (Đại học Michigan, Mỹ) chưa có một hệ thống tóm tắt theo tóm lược đạt đến sự hoàn thiện, các hệ thống tóm tắt theo tóm lược hiện nay thường dựa vào thành phần trích xuất có sẵn. Các hệ thống này thường được biết đến với tên gọi tóm tắt theo nén văn bản. Tóm tắt theo nén văn bản (Text Compaction): là loại tóm tắt sử dụng các phương pháp cắt xén(truncates) hay viết gọn(abbreviates) đối với các thông tin quan trọng sau khi đã được trích xuất.
Mặc dù dựa vào nhiều cơ sở có nhiều loại tóm tắt khác nhau tuy nhiên hai loại tóm tắt là tóm tắt đơn văn bản và tóm tắt đa văn bản vẫn được sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu về tóm tắt tự động.3 Tóm tắt đơn văn bản Bài toán tóm tắt văn bản đơn cũng giống như các bài toán tóm tắt khác, là một quá trình tóm tắt tự động với đầu vào là một văn bản, đầu ra là một đoạn mô tả ngắn gọn nội dung chính của văn bản đầu vào đó. Văn bản đơn có thể là một trang Web, 8 một bài báo, hoặc một tài liệu với định dạng xác định (ví dụ : .txt)… Tóm tắt văn bản đơn là bước đệm cho việc xử lý tóm tắt đa văn bản và các bài toán tóm tắt phức tạp hơn. Chính vì thế những phương pháp tóm tắt văn bản ra đời đầu tiên đều là các phương pháp tóm tắt cho văn bản đơn. Các phương pháp nhằm giải quyết bài toán tóm tắt văn bản đơn cũng tập trung vào hai loại tóm tắt là: tóm tắt theo trích xuất và tóm tắt theo tóm lược.
Tóm tắt theo trích xuất Đa số các phương tóm tắt theo loại này đều tập trung vào việc trích xuất ra các câu hay các ngữ nổi bật từ các đoạn văn bản và kết hợp chúng lại thành một văn bản tóm tắt. Một số nghiên cứu giai đoạn đầu thường sử dụng các đặc trưng như vị trí của câu trong văn bản, tần số xuất hiện của từ, ngữ hay sử dụng các cụm từ khóa để tính toán trọng số của mỗi câu, qua đó chọn ra các câu có trọng số cao nhất cho văn bản tóm tắt. Các kỹ thuật tóm tắt gần đây sử dụng các phương pháp học máy và xử lý ngôn ngữ tự nhiên nhằm phân tích để tìm ra các thành phần quan trọng của văn bản. Sử dụng các phương pháp học máy có thể kể đến phương pháp của Kupiec, Penderson and Chen năm 1995 sử dụng phân lớp Bayes để kết hợp các đặc trưng lại với nhau hay nghiên cứu của Lin và Hovy năm 1997 áp dụng phương pháp học máy nhằm xác định vị trí của các câu quan trọng trong văn bản.
Bên cạnh đó việc áp dụng các phương pháp phân tích ngôn ngữ tự nhiên như sử dụng mạng từ Wordnet của Barzilay và Elhadad vào năm 1997. Tóm tắt theo tóm lược Các phương pháp tóm tắt không sử dụng trích xuất để tạo ra tóm tắt có thể xem như là một phương pháp tiếp cận tóm tắt theo tóm lược. Các hướng tiếp cận có thể kể đến như dựa vào trích xuất thông tin (information extraction), ontology, hợp nhất và nén thông tin… Một trong những phương pháp tóm tắt theo tóm lược cho kết quả tốt là các phương 12 pháp dựa vào trích xuất thông tin, phương pháp dạng này sử dụng các mẫu đã được định nghĩa trước về một sự kiện hay là cốt truyện và hệ thống sẽ tự động điền các thông tin vào trong mẫu có sẵn rồi sinh ra kết quả tóm tắt. Mặc dù cho ra kết quả tốt tuy nhiên các phương pháp dạng này thường chỉ áp dụng trong một miền nhất định.4 Tóm tắt đa văn bản Tóm tắt đa văn bản có thể được coi như là một mở rộng của tóm tắt đơn văn bản.
Mục đích của tóm tắt đa văn bản: Là quá trình trích xuất nội dung từ một tập các văn bản có liên quan đến nhau, trong quá trình đó các thông tin dư thừa sẽ được loại bỏ và những thông tin quan trọng sẽ được biểu diễn dưới hình thức cô đọng, súc tích và giàu cảm xúc đến người sử dụng hoặc chương trình cần dùng.