Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VẬN CHUYẾN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG LUẬT HÌNH sụ VIỆT NAM 1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội vận chuyển trái phép chất ma túy 1. Khái niệm tội vận chuyển trái phép chất ma túy Thuật ngữ "ma túy" xuất hiện từ lâu trên thế giới với nhiều cách hiểu khác nhau nhưng các tổ chức quốc tế luôn xác định tính chất nghiêm trọng của vấn đề này và đặt ra yêu cầu hợp tác phòng ngừa, ngăn chặn. Để có căn cứ xác định loại chất ma túy, Liên họp quốc đã ban hành Công ước quốc tế về thống nhất các chất ma túy năm 1961, 1971, 1988.
Theo đó, ma túy là bất kỳ chất liệu nào được liệt kê trong bảng I, III, IV của Công ước này, dù dưới dạng tự nhiên hay tổng họp. Các chất ma túy có thể phân loại ra thành các nhóm như sau: - Theo đặc tính và mức độ tác động của chất gây nghiện, ma túy được chia thành ba nhóm: Ma túy mạnh, ma túy trung bình, ma túy nhẹ. - Theo nguồn gốc, cách thức tạo ra chất ma túy, ma túy được chia thành ba nhóm: + Ma túy tự nhiên: Các loại ma túy có nguồn gốc tự nhiên, thu được bằng cách hái hoặc nuôi trồng như thuốc phiện (quả); lá, hoa, quả cây cần sa.; + Ma túy bán tổng hợp: Các chất ma túy được điều chế từ sản phẩm tự nhiên bằng cách cho tác dụng với một số hóa chất để thu được chất ma túy có tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu (Ví dụ: Hêrôin là chất ma túy bán tổng hợp từ morphine bằng cách axetyl hóa morphine.); + Ma túy tổng họp: Là các chất ma túy được điều chế bằng phương pháp tổng họp hóa học toàn phần từ các chất (gọi là tiền chất). Các chất ma 7 túy tông hợp có tác dụng mạnh và nhanh hơn ma túy bán tông hợp (methadone, dolargan, methamphetamine.
Tại Việt Nam Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy thi: Chất ma túy bao gồm chất gây nghiện và chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành. Để làm rõ hơn khái niệm này, Luật Phòng, chống ma túy đã quy định thêm khái niệm “chất gây nghiện” và “chất hướng thần”. Theo đó, “chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng”, và “chất hướng thần” là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Như vậy, trong Luật Phòng, chống ma túy, cụm từ “chất ma túy” được định nghĩa và giải thích một cách gián tiếp qua các khái niệm “chất gây nghiện” và “chất hướng thần”.
Để cụ thể hóa chất nào là chất ma túy và bị cấm hay hạn chế sử dụng thì hiện nay, Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018. Theo đó, ở Việt Nam hiện có 515 chất ma túy chia thành 03 danh mục theo mức độ độc hại và yêu cầu kiểm soát việc sử dụng các chất này đó là: Thứ nhất, các chất ma túy tuyệt đối cấm sừ dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền. Thứ hai, các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, điều tra tội phạm, hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Thứ ba, các chất ma túy được dùng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế, thú y theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Ngoài ra, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 còn quy định 47 tiền chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất, điều chế ma túy. 8 Đe xác định một chất nào đó là ma túy thì chất đó phải có các đặc điếm sau: Được quy định trong danh mục các chất ma túy ban hành kèm theo Nghị định của Chính phủ; chất đó có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp; là chất độc gây nghiện; khi đưa các chất này vào co thể con người nó sẽ làm biến đổi một sổ chức năng thần kinh, làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó. Neu lạm dụng ma túy, sử dụng không đúng cách, không đúng liều lượng, không theo chỉ định thì người sử dụng sẽ nhanh chóng bị lệ thuộc vào nó, khi đó ma tủy sẽ gây tổn thương về nhiều mặt cho sức khỏe về cả thể chất và tinh thần cho chính người sử dụng, đồng thời còn tiềm ấn nguy cơ gây thiệt hại cho cộng đồng và xã hội từ chính người nghiện ma túy này. Nghiên cứu Điều 250 BLHS năm 2015 cho thấy, điều luật không mô tả như thế nào là hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, hay nói theo cách khác là không quy định khái niệm cụ thề về tội vận chuyển trái phép chất ma túy.
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam hiện nay, mặc dù các nhà khoa học còn có nhiều điểm khác nhau về khái niệm tội vận chuyển trái phép chất ma túy, song nhìn chung, các quan điểm đó vẫn khá thống nhất trong việc nêu ra nội dung và bản chất pháp lý của tội phạm này. Có quan điểm cho rằng: Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi đưa chất ma túy từ địa điểm này đến địa điểm khác mà không có giấy phép họp lệ. Hành vi vận chuyển chất ma túy có thể được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào như mang theo người, chuyển qua đường bưu điện, đường hàng không. 138], Quan điếm này có điểm hợp lý là phù hợp với các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, nhưng dưới góc độ khoa học, khái niệm đã nêu vẫn chưa đưa ra được dấu hiệu chủ thể của tội phạm.
Quan điểm khác lại cho rằng: Hành vi “vận chuyển trái phép chất ma 9 túy là hành vi chuyên dịch trái phép chât ma túy không nhăm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong những trường họp được quy định tại Điều 250 BLHS” [56, tr. Mặc dù đã có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội vận chuyển trái phép chất ma túy, tuy nhiên các quan điểm này mới chỉ nêu ra được một cách khái quát mà chưa nêu được một cách đầy đũ khái niệm của tội này một cách khoa học. Hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tội vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi chuyển dịch bất họp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào (trừ chiếm đoạt) như có thể bằng các phương tiện xe máy, ôtô khác nhau, trên các tuyến đường khác nhau, có thể để trong người, túi xách. mà không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy [52, tr.
Tổng hợp từ những quan điểm của các nhà khoa học, tác giả xin đưa ra khái niệm về tội vận chuyển trái phép chất ma túy như sau: Tộ/ vận chuyên trải phép chất ma túy là hành vi chuyên dịch trái phép chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy do người có năng lực trách nhiệm hình sự,z đù tuồi chịu • trách nhiệm • thực • hình sự • hiện • một • cách co ỷ xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy. Ỷ nghĩa của việc quy định tội vận chuyển trái phép chất ma túy Giáo dục và nâng cao ý thức chính trị, pháp luật của người dân đối với những tác hại của tệ nạn ma túy và sự nguy hiếm của tội phạm ma túy đối với mỗi người dân, mồi gia đình, và xã hội là cần thiết. Do đó người dân cũng sẽ cần trách nhiệm hơn và chú tâm hơn đến cuộc đấu tranh chung cùa toàn xã hội trong việc ngăn chặn, đấy lùi các tệ nạn xã hội và phòng, chống các loại tội phạm này. Vận chuyển trái phép chất ma tuý không chỉ là hiện tượng nguy hiểm cho xã hội, mà còn là những hành vi vi phạm pháp luật, 10 trái với các chuân mực đạo đức xã hội và đi ngược lại truyên thông văn hóa tốt đẹp của người Việt Nam.
Đảng và Nhà nước ta đã chủ động lập pháp để tạo cơ sở pháp lý, quán triệt, phổ biến và tổ chức thực hiện pháp luật Để ngăn chặn và phòng, chống có hiệu quả đối với hiện tượng nguy hiểm trên, từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm mục đích đấu tranh một cách quyết liệt hơn, hiệu quả hơn đối với tệ nạn ma túy và đặc biệt đối với tội phạm vận chuyển trái phép chất ma túy. Việc quy định tội vận chuyển trái phép chất ma túy trong Luật hình sự Việt Nam là một đòi hởi khách quan và có tính tất yếu cả về lý luận và thực tiễn trong đời sống xã hội. Những quy định này không những phản ánh các điều kiện kinh tế - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ chính trị ở Việt Nam hiện nay, mà còn thể hiện rõ những quan điểm, quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta cũng như nỗ lực của toàn thể dân tộc Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề rất phức tạp mang tính toàn cầu: Tệ nạn ma túy và tội phạm vận chuyển trái phép chất ma túy. Lịch sử hình thành và phát triển tội vận chuyển trái phép chất ma túy trong pháp luật hình sự Việt Nam 1.
Giai đoạn • trước khi ban hành Bộ• luật • Hình sự • năm 1985 Từ năm Cảnh Trị thứ ba (1665) Nhà nước Phong kiến ban hành luật đầu tiên về thuốc phiện, đạo luật này: “Con trai, con gái sử dụng thuốc phiện để thóa lòng dâm dật, cướp dùng nó để nhòm ngó nhà người ta. Trong thi kinh thành, ngoài thì thôn xóm, vì nó mà có khi hỏa hoạn, khánh kiệt tài sản. Vì nó mà thân thể tàn tạ, người chẳng ra người”. Đạo luật này còn quy định: “Quan lại và dân chúng không được trồng hoặc mua bán thuốc phiện.
Ai đã trồng phải phá đi, người nào giữ thì phải hủy đi”. Vào năm 1820, để triệt đường cung cấp thuốc phiện từ nước ngoài vào Việt Nam vua Minh Mạng đã ra quy định: cấm các thuyền buôn từ Tân Châu 11 (huyện Trác Lộc, tỉnh Trực Lệ, Trung Quôc) vào Việt Nam.