Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển Chương 3: Phân tích thực trạng quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển tại Công ty Cổ phần U&I Logistics Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp để hoàn thiện quy trình giao hàng xuất khẩu của công ty Cổ phần U&I Logistics 7 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH GIAO HÀNG XUẤT KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 2. Khái quát về dịch vụ giao hàng xuất khẩu bằng đường biển. Khái niệm về dịch vụ giao hàng xuất khẩu bằng đường biển Theo Luật Thương mại năm 2005, dịch vụ logistics là một hoạt động thương mại trong đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ giao hàng xuất khẩu bằng đường biển là hình thức vận chuyển hàng hóa từ một quốc gia đến một quốc gia khác qua tuyến đường biển.
Đây là một phần trong chuỗi cung ứng quốc tế, giúp hàng hóa lưu thông theo các điều kiện giao nhận mà hai bên xuất và nhập khẩu đã thống nhất với nhau, các công ty vận tải hoặc logistics thường đảm nhiệm dịch vụ này. Hiện nay có nhiều khái niệm về dịch vụ vận tải, theo quy tắc mẫu về dịch vụ giao nhận vận tải của Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận vận tải quốc tế (FIATA) giao nhận vận tải được hiểu như sau : "Giao nhận vận tải là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển gom hàng. lưu kho, bốc xếp, đóng gói hoặc phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan tài chính mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá." Ngày 29/10/2004, Hiệp hội FIATA đã phối hợp với Hiệp hội châu Âu về các dịch vụ giao nhận, vận tải, logistics và hải quan (CLECAT) đã đi đến thống nhất khái niệm về dịch vụ giao nhận vận tải và logistics, đó là: "Giao nhận vận tải là bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến chuyển chở (được thực hiện bởi một hoặc nhiều phương tiện vận tải), gom hàng, lưu kho, xếp dỡ, đóng gói hay phân phối hàng hoá cũng như các dịch vụ phụ trợ và tư vấn có liên quan đến các dịch vụ kế trên, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn ở những vấn đề hải quan hay tài chính, khai bảo hàng hóa cho những mục đích chính thức, mua bảo hiểm cho hàng hoá và thu tiền hay lập các chứng từ liên quan đến hàng hóa. Dịch vụ giao nhận bao gồm có dịch vụ logistics cùng với công nghệ thông tin hiện đại liên quan chặt chẽ đến quá trình vận tải, xếp dỡ hoặc lưu kho bãi và quản lý chuỗi cung trên thực tế.
Những dịch vụ này có 8 thể được cung cấp để đáp ứng với việc áp dụng linh hoạt các dịch vụ được cung cấp.” Tại Việt Nam, dịch vụ giao nhận vận tải lần đầu tiên được đề cập tại điều 163 Luật Thương mại 1997 với nội dung tương tự như khái niệm của FIATA: "Giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, đối tác vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự sỹ thác của chủ hàng của người vận tải hoặc người giao nhận khác". Từ khái niệm chung của dịch vụ giao nhận vận tải nói trên và trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, chúng ta có thể hiểu: Dịch vụ vận tải hàng hóa bằng đường biển là hành vi thương mại, nhằm mục đích đưa hàng hóa từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng thông qua việc sử dụng phương tiện và cơ sở hạ tầng đường biển. Phương tiện thường dùng trong vận tải biển sẽ là các tàu thuyền và phương tiện xếp, tháo gỡ hàng hóa. Cơ sở hạ tầng để phục vụ cho vận tải đường biển bao gồm các cảng biển, các cảng trung chuyển, sân container.
Đặc điểm của dịch vụ giao hàng xuất khẩu bằng đường biển So sánh giữa các nền kinh tế đã phát triển và đang phát triển có thể thấy rõ vai trò của vận chuyển hàng hóa nói chung và vận chuyển hàng hóa bằng đường biển nói riêng trong việc tạo ra một trình độ phát triển cao. Vận tải hàng hóa bằng đường biển đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động vận tải quốc tế nhờ vào một số ưu điểm vượt trội so với các phương thức vận chuyển khác, bao gồm: Thứ nhất, năng lực chuyên chở lớn hơn các phương thức vận chuyển khách nhỏ hai yếu tố. Một là năng lực chuyên chở của công cụ vận tải biển không bị hạn chế như các công cụ khác. Trong cùng một chuyển đường biển có thể tổ chức chạy nhiều chuyến tàu trong cùng một thời gian cho cả hai chiều.
Hai là trọng tải tàu biển rất lớn và vẫn có xu hướng tăng lên với tất cả các nhóm tàu nhờ các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Trọng tải trung bình của tàu hiện nay từ 15.000 DWT đối với tàu kinh doanh theo hình thức tàu chợ, đối với tàu chở hàng khô và tàu dầu, trọng tải trung bình lớn hơn nhiều (30.000 DWT đối với tàu chở hàng khô, 50.000 DWT đối với tàu chở dầu). Đặc biệt, trên thế giới đã xuất hiện những tàu chở dầu cực lớn trọng tải trên 500. Thứ hai, giá thành vận chuyển thấp: Vận tải biển có chi phí thấp hơn nhiều so với các phương thức vận tải khác như đường bộ hay hàng không.
Nguyên nhân chủ yếu 9 là do trọng tải lớn của tàu biển, cự ly chuyên chở dài và thời gian vận chuyển ổn định giúp giảm thiểu chi phí cho mỗi chuyến hàng. Đặc biệt, số lượng nhân sự cần thiết cho tàu biển thấp, giúp nâng cao năng suất lao động. Các tiến bộ trong công nghệ đóng tàu và quản lý vận hành cũng đã giúp giảm đáng kể chi phí và thời gian vận chuyển, tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ so với các phương thức vận tải khác. Thứ ba, chi phí đầu tư xây dựng các tuyến đường hàng hải thấp: Các tuyến đường hàng hải chủ yếu là các tuyến giao thông tự nhiên, không cần phải đầu tư quá nhiều vào cơ sở hạ tầng so với các phương thức vận tải khác.
Các tuyến đường biển đã được hình thành và sử dụng từ lâu, với những cảng biển tự nhiên hoặc kênh đào quốc tế đã có sẵn, giúp giảm đáng kể chi phí xây dựng và bảo trì cơ sở hạ tầng. Đây chính là nguyên nhân giúp giữ cho giá thành vận tải đường biển luôn ở mức thấp và hợp lý. Thứ tư, chuyên chở được đa dạng loại hàng hóa: Vận tải đường biển thích hợp cho việc vận chuyển hầu hết các loại hàng hoá trong thương mại quốc tế. Đặc biệt thích hợp và hiệu quả là các loại hàng rời có khối lượng lớn và giá trị thấp như: than đá, quặng, ngũ cốc phốt pho và dầu mỏ.
Nhìn chung, vận tải hàng hóa bằng đường biển là một phương thức vận chuyển hiệu quả và có nhiều lợi thế về chi phí và khả năng chuyên chở hàng hóa số lượng lớn, đặc biệt là trong thương mại quốc tế. Tuy nhiên, vận tải biển cũng có một số nhược điểm sau đây: Đầu tiên, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên: Môi trường hoạt động, thời tiết, điều kiện thuỷ văn trên mặt biển luôn ảnh hưởng đến quá trình chuyên chở. Những rủi ro thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển thường gây ra những tổn thất lớn cho tàu, hàng hoá và sinh mạng con người. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự ra đời của những con tàu biển hiện đại có khả năng chinh phục thiên nhiên cũng phần nào hạn chế được các tai nạn đường biển, nhưng không thể là tuyệt đối.
Tốc độ vận chuyển của tàu biển còn thấp: Tốc độ của một tàu chở hàng bình thường là 16 – 20 hải lý/giờ (tương đương 30 – 40 km/h). Tốc độ này là thấp so với tốc độ của các phương tiện giao thông khác như máy bay, tàu hoả. Về mặt kỹ thuật, người ta có thể đóng các tàu biển có tốc độ cao hơn nhiều. Tuy nhiên, việc gia tăng tốc độ vượt qua ngưỡng này đòi hỏi tiêu hao một lượng năng lượng lớn hơn nhiều, không đảm bảo tính kinh tế.
Vai trò của dịch vụ giao hàng xuất khẩu bằng đường biển. Diện tích biển chiếm 2/3 tổng diện tích trái đất, một cách hoàn toàn tự nhiên, tạo nên một hệ thống tuyến đường biển quốc tế nối liên phần lớn các quốc gia trên thế giới đã tạo cho vận tải đường biển giữ vị trí số một trong chuyên chở hàng hoá trên thị trường thế giới. Hiện tại, vận tải biển chiếm gần 80% tổng khối lượng hàng hoá chuyên chở trong buôn bán quốc tế. Con số này cho thấy vai trò to lớn của vận tải hàng hóa bằng đường biển trong hoạt động giao nhận hàng hóa bằng đường biển.
Bên cạnh đó, nguyên tắc "tự do hàng hải" đã tạo thuận lợi cho ngành vận tải biển, cho phép tàu thuyền mang mọi quốc tịch được tự do hoạt động trên các tuyến thương mại quốc tế, các hoạt động chuyên chở bằng được biển ngày càng được khuyến khích. Kể cả với các quốc gia có điều kiện tự nhiên không thuận lợi như Lào, Campuchia thì vận tải biển vẫn giữ vị trí chủ đạo trong việc chuyên chở hàng hóa thương mại quốc tế (Lào và Campuchia vẫn phải thuê cảng biển của Việt Nam để thực hiện chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển). Vận chuyển hàng hóa bằng đường biển cũng góp phần thúc đẩy phát triển hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia. Vận tải giao hàng hóa đường biển đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế.
Đây không chỉ là phương tiện vận chuyển hàng hóa mà còn là yếu tố quyết định sự kết nối và hợp tác quốc tế. Đối với Việt Nam, hệ thống cảng biển phát triển mạnh mẽ, nhất là các cảng lớn như Sài Gòn và Hải Phòng. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình vận chuyển và thương mại quốc tế. Vận tải biển không chỉ mang lại hiệu suất và tiết kiệm chi phí mà còn tạo cơ hội lớn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Với chiều dài bờ biển là 3.