Chương 1 Dựa trên cơ sở những kiến thức đã có được, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Vinadelta” với mục đích tìm ra những tồn tại của bộ máy kế toán tại Công ty Cổ phần Vinadelta, từ đó có những giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại đơn vị. Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài sử dụng các số liệu thống kê được thu thập thông qua các tài liệu thống kê, các báo cáo đã được công bố; tổng hợp: kế thừa các nghiên cứu khác để đưa ra các ý kiến nhận định cho nghiên cứu này; kết quả của quá trình điều tra, thu thập, tổng hợp số liệu được sử dụng để phân tích về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Vinadelta. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 2. Đặc điểm ngành xây dựng ảnh hưởng tới kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong doanh nghiệp Xây dựng cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rõ nét ở sản phẩm và quá trình tạo ra sản phẩm, gây ảnh hưởng chi phối đến tổ chức kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Thứ nhất, sản xuất xây lắp các công trình, vật kiến trúc có quy mô, giá trị lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài, mang tính chất đơn chiếc, do đó công việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp phải lập dự toán (dự toán thiết kế, thi công). Thi công theo từng công trình hoặc hạng mục công trình. Trong quá trình thi công xây lắp phải thường xuyên so sánh kiểm tra việc thực hiện dự toán chi phí, tìm ra nguyên nhân vượt, hụt dự toán và đánh giá hiệu quả kinh doanh. Quá trình sản xuất xây lắp phải lấy dự toán làm thước đo.
Tiếp theo, sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, do đó các yếu tố phục vụ sản xuất: tư liệu, lao động, máy thi công… phải di chuyển theo địa điểm đặt công trình. Như vậy, công tác quản lý, sử dụng, hạch toán vật tư, tài sản công trở nên rất phức tạp. Mặt khác, hoạt động xây dựng cơ bản thường tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý, sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp, dễ bị mất mát, hư hỏng làm tăng chi phí sản xuất.
Bên cạnh đó, chu kì sản xuất của đơn vị xây lắp thường rất dài, chi phí phát sinh thường xuyên trong khi doanh thu chỉ phát sinh ở từng thời điểm nhất định. Do đó, kỳ tính giá thành ở các đơn vị xây lắp thường được xác định theo kỳ sản xuất. Thứ ba, sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận với chủ đầu tư từ trước (giá đấu thầu) nên tính chất hàng hoá của sản phẩm thể hiện không rõ hay nói cách khác, tác động của yếu tố thị trường bị hạn 8 chế. Cuối cùng, tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam phổ biến theo phương thức khoán gọn các công trình, hạng mục công trình, khối lượng hoặc công việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp (đội, xí nghiệp.
Trong giá khoán gọn, không chỉ có tiền lương mà còn có đủ các chi phí về vật liệu, công cụ, dụng cụ thi công, chi phí chung của bộ phận nhận khoán.Cơ chế khoán được áp dụng rộng rãi với nhiều phương thức giao khoán khác nhau: khoán gọn công trình, khoán theo từng khoản mục chi phí…Mỗi phương thức đều có ưu điểm, hạn chế nhất định, đòi hỏi doanh nghiệp phải căn cứ tình hình thực tế để lựa chọn phương thức phù hợp. Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng 2. Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm v Chi phí sản xuất: Theo VAS 01 và IAS 01“Chuẩn mực chung”, chi phí được hiểu là các yếu tố làm giảm các lợi ích kinh tế của doanh nghiệp trong kỳ, dưới hình thức các khoản tiền chi ra hoặc giảm tài sản hoặc làm phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu nhưng không bao gồm khoản phân phối cho các cổ đông hoặc chủ sỡ hữu. Từ định nghĩa này, chi phí được xem xét theo từng kỳ kế toán và là các khoản mục trong báo cáo tài chính.
Theo cách đó thì chi phí được ghi nhận, phản ánh theo những nguyên tắc nhất định. Khái niệm chi phí như vậy phù hợp khi đứng trên góc độ của đối tượng sử dụng thông tin kế toán tài chính, chủ yếu là đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. Vậy để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình các doanh nghiệp phải huy động, sử dụng các nguồn lực như lao động, vật tư, tiền vốn. để tạo ra sản phẩm hay hoàn thành công việc, lao vụ của mình.
Những chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất sản phẩm, hoàn thành công việc, lao vụ đó được gọi là chi phí sản xuất. 9 Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định (Ngô Thế Chi và cộng sự, 2013). Khi xem xét bản chất của chi phí trong doanh nghiệp cần xác định rõ chi phí sản xuất của doanh nghiệp được đo bằng tiền và tính toán trong một khoảng thời gian nhất định. Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào hai nhân tố chủ yếu: - Khối lượng lao động, tư liệu sản xuất đã tiêu hao vào sản xuất trong một thời kỳ nhất định.
- Giá cả tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và tiền công của một đơn vị lao động đã hao phí. v Giá thành sản phẩm: Cũng theo Ngô Thế Chi và cộng sự (2013) thì giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí sản xuất tính cho từng công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao và được chấp nhận thanh toán. Khác với các doanh nghiệp khác, ở doanh nghiệp xây dựng giá thành sản phẩm xây lắp mang tính chất cá biệt: mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành đều có một giá thành riêng. Giá thành sản phẩm có hai chức năng chủ yếu: - Chức năng thước đo bù đắp chi phí: là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra được bù đắp bằng số tiền thu được do tiêu thụ sản phẩm để hoàn thành khối lượng xây lắp.
Căn cứ vào đơn giá bán trên thị trường, hoặc đơn giá theo giá đấu thầu và căn cứ vào giá thành đơn vị sản phẩm ta sẽ biết được doanhnghiệp có bù đắp được chi phí bỏ ra hay không. - Chức năng lập giá: để bù dắp chi phí đã bỏ ra khi xác định giá bán của sản phẩm phải căn cứ vào giá thành của nó. Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Phân loại chi phí: Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dung kinh tế, mục đích, công dụng cũng như yêu cầu quản lý khác nhau.Vì vậy để đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí cũng như công tác kế toán, chi phí sản xuất được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.Cụ thể: • Theo mục đích, công dụng của chi phí: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí về các loại vật liệu chính, vật liệu phụ, vật liệu sử dụng luân chuyển cần thiết (cấu kiện bê tông chế sẵn) để tạo nên sản phẩm xây lắp. - Chi phí nhân công trực tiếp là chi phí về tiền lương (tiền công), các khoản phụ cấp có tính chất thường xuyên (phụ cấp lưu động, phụ cấp trách nhiệm) của công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp.
- Chi phí sử dụng máy thi công: là chi phí liên quan đến hoạt động của các loại máy thi công như máy xúc, máy đào, máy ủi, máy thuê trộn bê tông… Chi phí sử dụng máy thi công chỉ được tách thành một khoản mục riêng đối với các doanh nghiệp thực hiện thi công hỗn hợp, vừa thủ công, vừa dùng máy. - Chi phí sản xuất chung là chi phí tổng hợp, bao gồm: tiền lương của nhân viên quản lý đội xây lắp, các khoản trích theo lương của công nhân xây lắp, công nhân sử dụng máy thi công, nhân viên quản lý đội xây lắp (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ), chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động của đội và các chi phí khác liên quan đến hoạt động của đội xây lắp. Việc phân loại này có tác dụng phục vụ yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo dự toán. Bởi vì trong hoạt động xây dựng cơ bản dự toán được lập trước khi thực hiện công việc thi công và lập theo các khoản mục chi phí (chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí chung).
Thông qua cách phân loại này, kế toán thực hiện tập hợp chi phí sản 11 xuất thực tế theo từng khoản mục chi phí để cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm và làm cơ sở cho việc phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, kiểm tra việc thực hiện định mức chi phí sản xuất và làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cho kỳ sau. • Theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí: - Chi phí nguyên vật liệu: là chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ mà doanh nghiệp đã sử dụng và tính vào chi phí sản xuất trong kỳ. - Chi phí nhân công: là toàn bộ số tiền lương (tiền công) và các khoản trích theo lương tính trên tiền lương của công nhân sản xuất, công nhân sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý sản xuất ở các bộ phận, đội sản xuất.