Giới thiệu dự án

Tình trạng vô sinh và hiếm muộn đang trở thành một thách thức y tế và xã hội quy mô toàn cầu. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính cứ 6 người trưởng thành thì có 1 người gặp vấn đề vô sinh ở một thời điểm trong đời. Tại Việt Nam, số liệu thống kê y tế ghi nhận khoảng 7,7% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản bị vô sinh, hiếm muộn (tương đương hơn 1.000.000 cặp vợ chồng), trong đó trên 50% các trường hợp tập trung ở nhóm tuổi dưới 30. Nhu cầu thực tế cần can thiệp hỗ trợ sinh sản và nhờ mang thai hộ hợp pháp dao động từ 500 đến 700 trường hợp mỗi năm.

Tuy nhiên, sự thiếu hụt nguồn người hỗ trợ tự nguyện cùng rào cản thủ tục pháp lý đã thúc đẩy thị trường ngầm phát triển mạnh mẽ. Vấn đề cốt lõi (Problem Statement) được xác định: Hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại (MTHVMĐTM) đang bị thương mại hóa sâu sắc, biến phụ nữ và trẻ em thành công cụ trục lợi, tạo thành các đường dây tội phạm có tổ chức, câu kết xuyên quốc gia, thậm chí gắn liền với tội phạm mua bán mô, bộ phận cơ thể người và mua bán người (điển hình như chuyên án năm 2023 tại Thừa Thiên Huế triệt phá đường dây mang thai hộ giá từ 450.000.000 VNĐ đến 600.000.000 VNĐ/ca kết hợp mua bán thận lên tới 1,45 tỷ VNĐ).

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại" thuộc chuyên ngành Luật Hình sự tại Trường Đại học Luật Hà Nội do sinh viên Nguyễn Thị Tố Uyên thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Đào Phương Thanh tập trung giải quyết bài toán hoàn thiện cơ chế định tội danh, lượng hình và giải pháp thực thi pháp luật.

graph TD
    A[Nhu cầu thực tế: 1 triệu cặp vợ chồng hiếm muộn] --> B[Nhu cầu nhờ mang thai hộ: 500-700 ca/năm]
    B --> C{Cơ chế pháp lý}
    C -->|Hợp pháp| D[Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo - Luật HN&GĐ 2014]
    C -->|Bất hợp pháp| E[Tổ chức MTH vì mục đích thương mại - Trục lợi 450-600 triệu/ca]
    E --> F[Tội phạm quy định tại Điều 187 BLHS 2015]
    F --> G[Xâm phạm trật tự quản lý y tế & Nhân phẩm con người]

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và luật học so sánh quốc tế về tội phạm tổ chức MTHVMĐTM.
  2. Phân tích 4 yếu tố cấu thành tội phạm và khung hình phạt theo quy định tại Điều 187 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
  3. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật qua các bản án điển hình, chỉ rõ các lỗ hổng lập pháp và đề xuất lộ trình sửa đổi, bổ sung quy phạm pháp luật cùng giải pháp quản trị số trong ngành y tế.

Phạm vi và giới hạn:

  • Đối tượng: Các quy định pháp luật hình sự hiện hành (BLHS 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Nghị định 10/2015/NĐ-CP, Nghị định 82/2020/NĐ-CP) và thực tiễn xét xử giai đoạn 2015–2024.
  • Giới hạn: Tập trung vào chế định hình sự đối với hành vi "tổ chức", không đi sâu vào chi tiết kỹ thuật y sinh học thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).

Phân tích và thiết kế giải pháp

Phân tích hiện trạng

Trước năm 2014, Nghị định số 12/2003/NĐ-CP áp dụng chính sách cấm tuyệt đối mọi hình thức mang thai hộ. Sự chuyển dịch lập pháp sang Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) năm 2014 chỉ thừa nhận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (MTHVMĐNĐ - Khoản 22 Điều 3) và nghiêm cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại (Khoản 23 Điều 3). Để ngăn chặn tình trạng thương mại hóa, Điều 187 BLHS 2015 lần đầu tiên hình sự hóa hành vi tổ chức MTHVMĐTM.

Tiêu chí so sánh Nghị định 12/2003/NĐ-CP Luật HN&GĐ 2014 & BLHS 2015 Tiêu chuẩn Quốc tế (Ấn Độ, Thái Lan)
Phạm vi cho phép Cấm tuyệt đối 100% Cho phép MTHVMĐNĐ, cấm MTHVMĐTM Cấm MTH thương mại (Ấn Độ 2021, Thái Lan 2015)
Chế tài xử lý Xử lý hành chính đơn thuần Hình sự hóa hành vi tổ chức (Điều 187 BLHS) Phạt tù lên đến 10 năm + Phạt tiền tương đương
Chủ thể bị xử lý Cơ sở y tế vi phạm Người giữ vai trò tổ chức, môi giới Phạt cả trung gian, người thuê và người mang thai
Quản lý dữ liệu Không có hệ thống theo dõi Hồ sơ hành chính rời rạc tại cơ sở y tế Cơ sở dữ liệu định danh y sinh học quốc gia

Ma trận ưu tiên yêu cầu hoàn thiện pháp luật (MoSCoW):

  • Must have (Bắt buộc phải có): Sửa đổi Điều 187 BLHS theo hướng mở rộng chủ thể tội phạm; tăng mức hình phạt tiền tương xứng với lợi nhuận bất chính (từ 500 triệu đến 2 tỷ đồng).
  • Should have (Nên có): Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu y tế định danh điện tử kết nối liên thông dữ liệu dân cư để xác thực quan hệ thân thích 3 đời theo Khoản 3 Điều 95 Luật HN&GĐ 2014.
  • Could have (Có thể có): Ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về định lượng yếu tố "vụ lợi", "lợi ích vật chất khác".
  • Won't have (Chưa thực hiện lúc này): Cho phép mang thai hộ thương mại có kiểm soát do chưa tương thích với Hiến pháp và chuẩn mực nhân quyền.

Thiết kế hệ thống: Cấu thành pháp lý và Luồng xử lý định tội

Hệ thống định tội danh và xử lý hành vi theo quy định của BLHS 2015 được thiết kế dựa trên mô hình cấu thành tội phạm 4 yếu tố:

[Chủ thể: Cá nhân đủ 16 tuổi, có NLTNHS]
[Khách thể: Trật tự quản lý y tế & Quyền nhân thân phụ nữ/trẻ em]
[Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp + Động cơ/Mục đích vụ lợi]
[Mặt khách quan: Hành vi thiết lập, lôi kéo, dàn xếp, trung gian MTH]
def classify_surrogacy_crime(age, capacity, has_organizing_act, commercial_intent, num_surrogates, repeats, abuse_entity, dangerous_recidivism):
    """
    Mo phong logic dinh toi danh va khung hinh phat theo Dieu 187 BLHS 2015
    """
    if age < 16 or not capacity:
        return "Khong du dieu kien ve chu the chiu TNHS (Dieu 12 BLHS)"
    
    if not has_organizing_act or not commercial_intent:
        return "Khong cau thanh toi pham theo Dieu 187 BLHS (Co the bi xu ly hanh chinh theo Nghi dinh 82/2020)"
    
    # Cau thanh tang nang - Khoan 2 Dieu 187 (Phat tu tu 01 nam den 05 nam)
    if num_surrogates >= 2 or repeats >= 2 or abuse_entity or dangerous_recidivism:
        return {
            "Toi_danh": "Toi to chuc mang thai ho vi muc dich thuong mai",
            "Khung_hinh_phat": "Khoan 2 Dieu 187 BLHS",
            "Muc_phat_tu": "Tu 01 nam den 05 nam tu giam",
            "Hinh_phat_bo_sung": "Phat tien tu 10.000.000 - 50.000.000 dong, cam hanh nghe 01 - 05 nam"
        }
    
    # Cau thanh co ban - Khoan 1 Dieu 187 (Phat tien 50-200 trieu, CTKGG den 2 nam hoac Tu 3 thang - 2 nam)
    return {
        "Toi_danh": "Toi to chuc mang thai ho vi muc dich thuong mai",
        "Khung_hinh_phat": "Khoan 1 Dieu 187 BLHS",
        "Che_tai": "Phat tien tu 50-200 trieu VND, hoac phat cai tao khong giam giu den 02 nam, hoac phat tu tu 03 thang den 02 nam",
        "Hinh_phat_bo_sung": "Phat tien tu 10.000.000 - 50.000.000 dong, cam hanh nghe 01 - 05 nam"
    }

Phương pháp luận nghiên cứu (Methodology)

Nghiên cứu áp dụng hệ thống phương pháp luận chặt chẽ:

  • Phương pháp phân tích quy phạm: Mổ xẻ các cấu trúc điều luật tại Điều 187 BLHS 2015, Điều 5, Điều 95 Luật HN&GĐ 2014, Điều 60 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.
  • Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của Ấn Độ (Đạo luật Surrogacy Regulation Act 2019/2021 cấm thương mại, hình phạt tới 10 năm tù), Thái Lan (Đạo luật năm 2015 sau vụ việc Baby Gammy), và Liên minh Châu Âu (Công ước Oviedo - Điều 21 cấm thu lợi tài chính từ cơ thể người).
  • Phương pháp tổng hợp và phân tích bản án: Thu thập dữ liệu thực tế từ các bản án đã có hiệu lực pháp luật (ví dụ: Bản án số 111/2021/HS-PT ngày 23/03/2021 của TAND Cấp cao tại Hà Nội).

Implementation và kết quả

Quá trình phân tích thực tiễn lập pháp và áp dụng

Quá trình nghiên cứu được triển khai qua 3 giai đoạn:

  1. Giai đoạn 1 - Khảo sát dữ liệu thực chứng: Phân tích 5–9 vụ án lớn được khởi tố mỗi năm tại Việt Nam. Kết quả cho thấy mỗi đường dây tổ chức trót lọt từ 3 đến 7 ca mang thai hộ trước khi bị phát hiện.
  2. Giai đoạn 2 - Đánh giá định lượng kinh tế tội phạm: Chi phí dịch vụ đen dao động từ 400.000.000 VNĐ đến 600.000.000 VNĐ/ca; trường hợp mang thai đôi thu thêm 30.000.000 VNĐ đến 50.000.000 VNĐ. Lợi nhuận thuần của đối tượng cầm đầu chiếm 40%–60% tổng chi phí.
  3. Giai đoạn 3 - Nhận diện bất cập: Đối chiếu số tiền phạt hành chính (5–10 triệu VNĐ) và phạt tiền hình sự (50–200 triệu VNĐ) với doanh thu hàng tỷ đồng của các đối tượng môi giới.
+-------------------------------------------------------------------------+
|                  CO CHE PHAN CHIA TAI CHINH TRONG 1 CA MTHVMDTM         |
+-------------------------------------------------------------------------+
| Tong chi phi nguoi thue tra: 450.000.000 - 600.000.000 VND              |
+-------------------------------------------------------------------------+

Case Studies và Thực tiễn xét xử (Validation Data)

Nghiên cứu kiểm chứng các luận điểm lý thuyết thông qua 2 vụ án thực tế:

  1. Bản án hình sự phúc thẩm số 111/2021/HS-PT (TAND Cấp cao tại Hà Nội):

    • Nội dung: Bị cáo thiết lập đường dây mang thai hộ với giá thỏa thuận từ 400.000.000 VNĐ đến 550.000.000 VNĐ/trường hợp đơn thai, phụ thu 30.000.000 – 50.000.000 VNĐ nếu mang song thai; yêu cầu tạm ứng trước 50% chi phí.
    • Đánh giá pháp lý: Tòa án áp dụng Khoản 2 Điều 187 BLHS (tình tiết "đối với 02 người trở lên" và "phạm tội 02 lần trở lên"), khẳng định vai trò tổ chức và mục đích trục lợi trực tiếp.
  2. Vụ án chuyên án Thừa Thiên Huế (Tháng 11/2023):

    • Quy mô: Bắt tạm giam 5 bị can với hành vi móc nối trên không gian mạng, tổ chức mang thai hộ với mức giá 450.000.000 – 600.000.000 VNĐ/ca, kết hợp mua bán trứng (25.000.000 VNĐ/lần) và môi giới ghép thận trái phép (900.000.000 – 1.450.000.000 VNĐ).
    • Ý nghĩa pháp lý: Minh chứng rõ nét cho sự biến tướng nguy hiểm từ tội phạm MTHVMĐTM sang các tội phạm có tổ chức về mua bán mô, bộ phận cơ thể người.

Kết quả đạt được

  • Xác định 3 điểm nghẽn pháp lý cốt lõi:
    1. Chủ thể hẹp: Chỉ xử lý người đứng ra "tổ chức", bỏ lọt bên mang thai hộ chuyên nghiệp (đẻ thuê nhiều lần vì tiền) và bên thuê mang thai hộ cố tình chối bỏ trách nhiệm, bỏ rơi trẻ em bị khuyết tật.
    2. Hình phạt thiếu tính răn đe: Mức phạt tiền 50.000.000 – 200.000.000 VNĐ quá thấp so với mức sinh lời 200%–300% của tội phạm.
    3. Lỗ hổng thủ tục: Quy định quan hệ thân thích cùng hàng tại Khoản 3 Điều 95 Luật HN&GĐ 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP thiếu cơ chế xác thực hộ tịch liên tỉnh, tạo điều kiện cho việc làm giả giấy tờ xác nhận họ hàng.

Đổi mới và đóng góp

Nghiên cứu mang lại 4 đóng góp mang tính đột phá cho khoa học luật hình sự và công tác quản lý nhà nước:

  1. Đề xuất tái cấu trúc tên gọi và cấu thành tội danh Điều 187 BLHS:
    • Đổi mới: Chuyển tên tội danh từ "Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại" thành "Tội mang thai hộ vì mục đích thương mại".
    • Cơ chế: Đưa hành vi "tổ chức" trở thành tình tiết định khung tăng nặng; đồng thời mở rộng chủ thể chịu trách nhiệm hình sự đối với bên mang thai hộ vì tiền tái phạm nhiều lần và bên nhờ mang thai hộ có hành vi bỏ rơi, xâm phạm quyền lợi đứa trẻ.
  2. Cơ chế kinh tế học tội phạm trong định khung hình phạt:
    • Tăng mức xử phạt tiền cơ bản lên gấp 5 lần (tối thiểu 200.000.000 VNĐ đến 1.000.000.000 VNĐ) kết hợp tịch thu 100% tài sản do phạm tội mà có để triệt tiêu hoàn toàn động cơ kinh tế của mạng lưới tội phạm.
  3. Mô hình phối hợp kiểm soát Y tế - Tư pháp số:
    • Ứng dụng hệ thống xác thực dữ liệu sinh trắc học và phả hệ điện tử tại các bệnh viện được cấp phép IVF, giảm thiểu 95% tình trạng sử dụng hồ sơ thân thích giả mạo.

Ứng dụng thực tế và triển khai

Khả năng ứng dụng thực tế

  • Cơ quan Tư pháp (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án): Cung cấp bộ tiêu chí phân biệt ranh giới giữa thỏa thuận hỗ trợ chi phí nhân đạo hợp pháp và hành vi vụ lợi bất chính cấu thành Điều 187 BLHS.
  • Cơ sở khám chữa bệnh & Trung tâm Hỗ trợ sinh sản: Thiết lập quy trình kiểm soát hồ sơ 4 bước nghiêm ngặt: Xác thực căn cước công dân gắn chip -> Đối soát cơ sở dữ liệu dân cư về quan hệ thân thích -> Phỏng vấn tâm lý/pháp lý độc lập -> Lưu trữ mẫu ADN phôi và bố mẹ.
[Bệnh nhân nộp hồ sơ MTH]

Lộ trình triển khai khuyến nghị:

  • Giai đoạn 1 (2024 - 2025): Tòa án Nhân dân Tối cao phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Y tế và Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng Điều 187 BLHS 2015.
  • Giai đoạn 2 (2025 - 2026): Triển khai số hóa toàn diện dữ liệu các ca mang thai hộ tại tất cả cơ sở y tế được phép thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm trên toàn quốc.
  • Giai đoạn 3 (2026 - 2027): Đề xuất sửa đổi Điều 187 trong chương trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự.

Hạn chế và hướng phát triển

Hạn chế được ghi nhận:

  • Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu dựa trên các vụ án đã bị phát hiện và xét xử công khai; chưa thể bao quát toàn bộ "vùng tối tội phạm" (Dark figure of crime) hoạt động dưới hình thức thỏa thuận ngầm hoặc đưa người sang nước ngoài (Campuchia, Lào, Trung Quốc) sinh con.
  • Rào cản kỹ thuật trong việc giám sát các hội nhóm kín trên các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới có mã hóa đầu cuối.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Nghiên cứu tư pháp quốc tế về xử lý xung đột pháp luật đối với các trường hợp mang thai hộ thương mại xuyên quốc gia.
  • Xây dựng mô hình ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) quét và tự động cảnh báo các từ khóa, hoạt động môi giới mang thai hộ trên không gian mạng.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nhà lập pháp và Cơ quan hoạch định chính sách: Tiếp cận hệ thống luận cứ khoa học vững chắc và số liệu thực tiễn để phục vụ việc sửa đổi Bộ luật Hình sự và Luật Hôn nhân và Gia đình.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Nắm vững kỹ thuật phân tích dấu hiệu định tội, các tình tiết định khung tại Điều 187 BLHS nhằm tránh bỏ lọt tội phạm hoặc xử lý oan sai.
  • Bác sĩ và Cán bộ quản lý y tế tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản: Nắm rõ ranh giới pháp lý, quy trình xét duyệt hồ sơ nhằm phòng ngừa rủi ro bị lợi dụng danh nghĩa tổ chức y tế (Điểm c Khoản 2 Điều 187).
  • Các cặp vợ chồng hiếm muộn và cộng đồng xã hội: Nâng cao nhận thức pháp luật, phòng tránh bẫy lừa đảo của các đường dây môi giới bất hợp pháp, tiếp cận quy trình mang thai hộ nhân đạo đúng pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Người mang thai hộ và người thuê mang thai hộ có bị phạt tù theo Điều 187 BLHS không?

Theo quy định hiện hành tại Điều 187 BLHS 2015, chủ thể của tội phạm chỉ là người thực hiện hành vi tổ chức (lôi kéo, dàn xếp, môi giới, điều hành). Người trực tiếp mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ hiện không phải là chủ thể của Điều 187, nhưng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 5.000.000 VNĐ đến 10.000.000 VNĐ theo Điều 60 Nghị định 82/2020/NĐ-CP. Nếu họ tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực, tổ chức cho nhiều người khác thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại bị phạt tù bao nhiêu năm?

Theo Điều 187 BLHS 2015:

  • Khung 1 (Cấu thành cơ bản): Phạt tiền từ 50.000.000 VNĐ đến 200.000.000 VNĐ, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
  • Khung 2 (Cấu thành tăng nặng): Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu thuộc các trường hợp: phạm tội đối với 02 người trở lên; phạm tội 02 lần trở lên; lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; tái phạm nguy hiểm.
  • Hình phạt bổ sung: Phạt tiền từ 10.000.000 VNĐ đến 50.000.000 VNĐ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 đến 05 năm.

3. Điều kiện hợp pháp để được nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là gì?

Căn cứ Điều 95 Luật HN&GĐ 2014, cặp vợ chồng có quyền nhờ mang thai hộ khi có đủ các điều kiện:

  1. Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;
  2. Vợ chồng chưa có con chung;
  3. Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý. Người được nhờ mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng (chị em ruột, chị em con chú bác cô dì, chị dâu em dâu), đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ 1 lần.

4. Tội phạm Điều 187 BLHS cấu thành vật chất hay cấu thành hình thức?

Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại có cấu thành tội phạm hình thức. Tội phạm hoàn thành ngay từ thời điểm người phạm tội thực hiện một trong các hành vi tổ chức, sắp xếp, lôi kéo, dàn xếp để các bên tiến hành mang thai hộ nhằm mục đích thu lợi bất chính, không phụ thuộc vào việc đứa trẻ đã được thụ thai hay sinh ra thành công hay chưa.

5. Pháp luật xử lý thế nào nếu bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con sau khi trẻ sinh ra?

Luật HN&GĐ 2014 quy định bên nhờ mang thai hộ là cha mẹ theo luật định kể từ thời điểm đứa trẻ được sinh ra và không được quyền từ chối nhận con. Nếu từ chối nhận con hoặc bỏ rơi đứa trẻ, bên nhờ mang thai hộ sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng" (Điều 186 BLHS) hoặc "Tội vứt bỏ con mới đẻ" (Điều 124 BLHS) tùy theo tính chất và hậu quả thực tế.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại" của tác giả Nguyễn Thị Tố Uyên đã cung cấp một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu và giàu giá trị thực tiễn đối với khoa học luật hình sự Việt Nam. Đề tài đã giải quyết trọn vẹn sự xung đột giữa nhu cầu sinh sản chính đáng của hơn 1 triệu cặp vợ chồng vô sinh với yêu cầu bảo vệ quyền con người, chống thương mại hóa cơ thể phụ nữ và trẻ em.

Những phát hiện và giải pháp đề xuất — bao gồm việc mở rộng chủ thể định tội danh, nâng mức chế tài kinh tế, siết chặt điều kiện quan hệ thân thích cùng hàng và ứng dụng số hóa liên thông dữ liệu y tế - tư pháp — là định hướng then chốt góp phần hoàn thiện chế định Điều 187 BLHS trong kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.