Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quan niệm xã hội truyền thống của các quốc gia Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, thiên chức làm cha, làm mẹ và việc duy trì nòi giống giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống gia đình. Quyền sinh con và xác lập quan hệ cha mẹ là quyền nhân thân cơ bản được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trung bình cứ 6 người trưởng thành thì có 1 người gặp tình trạng vô sinh ở một thời điểm trong đời. Tại Việt Nam, tỷ lệ vô sinh ở các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản chiếm khoảng 7,7% (tương đương hơn 1 triệu cặp vợ chồng), trong đó trên 50% nằm ở độ tuổi dưới 30. Mỗi năm cả nước có khoảng 500 đến 700 trường hợp có nhu cầu thực tế về việc nhờ mang thai hộ do bệnh lý nghiêm trọng của người vợ như không có tử cung bẩm sinh, cắt tử cung do ung thư hoặc tai biến sản khoa.

Trước năm 2014, pháp luật Việt Nam nghiêm cấm hành vi mang thai hộ dưới mọi hình thức theo Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2003. Đến Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) và Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, Nhà nước lần đầu tiên cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (MTHVMĐNĐ), đồng thời duy trì lệnh cấm tuyệt đối đối với mang thai hộ vì mục đích thương mại (MTHVMĐTM) tại điểm g khoản 2 Điều 5. Tuy nhiên, trên thực tế xuất hiện nhiều đường dây tội phạm lợi dụng kẽ hở pháp luật để thiết lập các dịch vụ mang thai hộ thương mại quy mô lớn với chi phí từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng, thậm chí câu kết với tội phạm mua bán người, mua bán mô và bộ phận cơ thể người (điển hình như chuyên án do Công an tỉnh Thừa Thiên Huế triệt phá ngày 10/11/2023 khởi tố 5 bị can). Nhằm xử lý hiện tượng này, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung Điều 187 quy định về "Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là phân tích các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, chỉ ra các ưu điểm và bất cập trong thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Khóa luận thực hiện 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản xoay quanh mang thai hộ và tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại.
  2. Trình bày, phân tích có hệ thống các quy định pháp luật hình sự hiện hành của Việt Nam về dấu hiệu định tội và khung hình phạt đối với tội danh này.
  3. Chỉ ra những điểm hạn chế, vướng mắc trong quy định và thực tiễn thi hành, từ đó đề ra các giải pháp, phương hướng hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại và thực tiễn xét xử các vụ án hình sự liên quan. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các chế định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, cùng các quy định pháp luật tương ứng của một số quốc gia trên thế giới (Ấn Độ, Thái Lan, các nước thuộc Liên minh Châu Âu).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp khái quát hóa và tổng hợp: Làm rõ các khái niệm, cơ sở lý luận, bản chất xã hội, y học và pháp lý của hành vi mang thai hộ và tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại.
  • Phương pháp phân tích và bình luận pháp lý: Mổ xẻ 4 yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan) và các khung hình phạt quy định tại Điều 187 BLHS năm 2015, kết hợp đối chiếu với Điều 12, Điều 50 đến 52, Điều 65 BLHS năm 2015.
  • Phương pháp so sánh và đối chiếu pháp luật: So sánh mô hình lập pháp và kinh nghiệm điều chỉnh hành vi mang thai hộ thương mại tại các quốc gia trên thế giới để rút ra bài học cho Việt Nam.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Hiến pháp, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Nghị định số 12/2003/NĐ-CP, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.
  • Văn kiện, công ước quốc tế và luật nước ngoài: Hiến chương về các Quyền Cơ bản của Liên minh Châu Âu, Công ước Oviedo, Đạo luật MTH Ấn Độ (2019, 2021), Đạo luật Bảo vệ Trẻ em Sinh ra từ Công nghệ Hỗ trợ Sinh sản của Thái Lan (2015).
  • Dữ liệu thực tiễn và án văn: Bản án hình sự phúc thẩm số 111/2021/HS-PT ngày 23/03/2021 của TAND cấp cao (từ Bản án sơ thẩm số 236/2020/HS-ST ngày 08/07/2020 của TAND TP. Hà Nội); số liệu báo cáo của Bộ Y tế, Bệnh viện Phụ sản Trung ương và thông tin chuyên án thực tế.
  • Tài liệu học thuật: Các công trình nghiên cứu, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và bài báo khoa học của các chuyên gia pháp lý (Nguyễn Thị Lê Huyền, Nguyễn Thị Minh Hải, Nguyễn Thị Lan, Bùi Quỳnh Hoa, Phạm Thị Hương Giang, Nguyễn Văn Cừ, Lương Thị Thu Hà, Đỗ Hoài An).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Một số vấn đề chung về tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại

Chương này tập trung xác lập hệ thống lý luận, phân loại khái niệm và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế:

  • Khái niệm mang thai hộ được xem xét dưới ba góc độ:
    • Dưới góc độ xã hội: Là quá trình duy trì nòi giống và tái sản xuất con người, tạo ra sức lao động và bảo đảm sự cân bằng, ổn định xã hội.
    • Dưới góc độ y học: Là biện pháp hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) khi lấy trứng của người vợ kết hợp tinh trùng của người chồng tạo thành phôi rồi cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai giúp. Khóa luận phân biệt rõ MTH với kỹ thuật bơm tinh trùng trực tiếp vào tử cung (IUI) mang huyết thống của người mang thai.
    • Dưới góc độ pháp lý: Là quan hệ pháp luật có sự tham gia của 4 chủ thể: bên nhờ mang thai hộ, bên mang thai hộ, đứa trẻ sinh ra và cơ sở y tế được cấp phép thực hiện kỹ thuật.
  • Phân biệt hai hình thức mang thai hộ theo khoản 22 và khoản 23 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:
Tiêu chí phân biệt Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Mang thai hộ vì mục đích thương mại
Mục đích Tự nguyện, không vụ lợi, giúp đỡ các cặp vợ chồng vô sinh Thu lợi ích kinh tế hoặc lợi ích vật chất khác
Kỹ thuật áp dụng Bắt buộc thụ tinh trong ống nghiệm (lấy noãn vợ + tinh trùng chồng) Thụ tinh trong ống nghiệm, thụ tinh nhân tạo hoặc quan hệ trực tiếp
Địa vị pháp lý Được pháp luật công nhận và bảo hộ theo điều kiện luật định Bị nghiêm cấm hoàn toàn; bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự
  • Kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát mang thai hộ thương mại:
    • Khảo sát năm 2013 của Liên đoàn Sinh sản Thế giới tại 105 quốc gia cho thấy 62 quốc gia phản đối, 19 quốc gia có luật rõ ràng, 24 quốc gia Hồi giáo và Thiên chúa giáo cấm tuyệt đối.
    • Ấn Độ: Từng hợp pháp hóa MTH thương mại từ năm 2002 để phát triển du lịch y tế. Đến năm 2015 cấm người nước ngoài, và thông qua các quy định giai đoạn 2019-2021 chỉ cho phép MTH nhân đạo giữa những người thân thích kết hôn từ 5 năm trở lên, áp dụng chế tài phạt tù từ 5 đến 10 năm hoặc phạt tiền đến 10 lakh rupees với hành vi thương mại hóa.
    • Thái Lan: Sau vụ bê bối bé Gammy năm 2014 (cặp vợ chồng người Úc bỏ rơi bé trai mắc hội chứng Down), Thái Lan ban hành Đạo luật năm 2015 cấm người nước ngoài thuê MTH, cấm môi giới (Điều 25, 26 phạt tù đến 5 năm hoặc phạt tiền đến 100.000 baht) và cấm MTH thương mại (Điều 23, Điều 42 phạt tù đến 10 năm và phạt tiền đến 200.000 baht).
    • Liên minh Châu Âu: Điều 3 Hiến chương Các Quyền Cơ bản của EU và Điều 21 Công ước Oviedo khẳng định cơ thể con người không được coi là nguồn lợi tài chính. Các nước như Đức, Phần Lan, Iceland cấm hoàn toàn mọi hình thức MTH.

Chương 2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại

Chương 2 phân tích chuyên sâu 4 dấu hiệu pháp lý định tội và hệ thống chế tài hình sự theo Điều 187 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  • Khách thể của tội phạm: Xâm phạm chế độ quản lý nhà nước về sinh sản bằng phương pháp kỹ thuật y tế và tính nhân đạo của hoạt động mang thai hộ.
  • Chủ thể của tội phạm: Cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS không áp dụng xử lý hình sự Điều 187 đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi). Chủ thể là người đứng ra thiết lập, điều hành, môi giới đường dây; không truy cứu người mang thai hộ hoặc người nhờ mang thai hộ nếu họ tự thực hiện thỏa thuận riêng lẻ mà không có hành vi tổ chức.
  • Mặt khách quan của tội phạm: Bao gồm chuỗi hành vi chỉ huy, phân công, điều hành, tìm kiếm người mang thai và cặp vợ chồng có nhu cầu, chuẩn bị điều kiện vật chất, y tế, kết nối các bên nhằm mục đích thu lợi bất chính. Tội phạm có cấu thành hình thức, việc có thụ thai hoặc sinh con thành công hay không không ảnh hưởng đến việc định tội.
  • Mặt chủ quan của tội phạm: Thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; động cơ và mục đích bắt buộc là vụ lợi kinh tế hoặc lợi ích vật chất khác.

Khung hình phạt quy định tại Điều 187 BLHS năm 2015:

Khung hình phạt Tình tiết định khung Mức chế tài
Khoản 1 (Cấu thành cơ bản) Thực hiện hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại không có tình tiết tăng nặng Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm
Khoản 2 (Định khung tăng nặng) a) Đối với 02 người trở lên;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức;
d) Tái phạm nguy hiểm
Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
Khoản 3 (Hình phạt bổ sung) Áp dụng kèm theo đối với người phạm tội Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm

Khóa luận phân tích việc kết hợp các quy định về lượng hình tại Điều 50, Điều 51 (tình tiết giảm nhẹ), Điều 52 (tình tiết tăng nặng) và Điều 65 (áp dụng án treo khi mức phạt tù không quá 3 năm và có đủ điều kiện thử thách từ 1 đến 5 năm).

Chương 3. Một số hạn chế và phương hướng hoàn thiện của BLHS về tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại

Tác giả chỉ ra 3 nhóm hạn chế trọng tâm:

  1. Thiếu khung chế tài hình sự đối với bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ: Hiện nay chỉ phạt hành chính từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo Điều 60 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP. Nhiều cá nhân biến MTH thành nghề đẻ thuê chuyên nghiệp; bên nhờ MTH có hành vi bỏ rơi, từ chối nhận con hoặc ngược đãi khi đứa trẻ sinh ra bị khuyết tật.
  2. Mức phạt tiền chưa tương xứng với siêu lợi nhuận: Mức phạt tiền 50 - 200 triệu đồng tại Khoản 1 Điều 187 là quá thấp so với lợi nhuận thực tế từ 400 đến 600 triệu đồng/ca (dẫn chứng Bản án số 111/2021/HS-PT của TAND TP. Hà Nội, chi phí mang thai hộ đơn là 400 - 550 triệu đồng, mang thai đôi phụ thu 30 - 50 triệu đồng).
  3. Bất cập trong áp dụng pháp luật và quản lý thực tiễn: Cơ sở dữ liệu y tế chưa liên thông khiến việc xác minh điều kiện thân thích cùng hàng (theo Điều 95 Luật HN&GĐ 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP) gặp khó khăn lớn; các hội nhóm môi giới hoạt động công khai trên mạng xã hội chưa được kiểm soát chặt; một số cơ sở y tế tư nhân làm chui kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận mang lại các kết quả nghiên cứu và đề xuất cụ thể:

  • Làm rõ tính chất nguy hiểm xã hội của tội phạm tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, phân định ranh giới giữa MTH nhân đạo và hành vi thương mại hóa cơ thể phụ nữ và trẻ em.
  • Đề xuất sửa đổi Điều 187 BLHS năm 2015:
    • Đổi tên điều luật thành "Tội mang thai hộ vì mục đích thương mại" để mở rộng diện xử lý hình sự đối với cả người mang thai hộ nhiều lần vì mục đích trục lợi và người nhờ mang thai hộ vi phạm nghĩa vụ nghiêm trọng.
    • Đưa dấu hiệu "có tổ chức" thành tình tiết định khung tăng nặng trong điều luật.
    • Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng và chế tài hình sự đối với bên nhờ mang thai hộ có hành vi từ chối nhận con hoặc bạo hành, ngược đãi trẻ.
    • Tăng mức phạt tiền bổ sung tương ứng với quy mô doanh thu và số tiền thu lợi bất chính của các đối tượng phạm tội.
  • Đề xuất giải pháp quản lý và thi hành pháp luật:
    • Ngành y tế số hóa, xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu quốc gia về thân nhân và hồ sơ mang thai hộ để ngăn ngừa tình trạng tráo đổi hồ sơ tại các bệnh viện.
    • Tăng cường kiểm soát, xử lý các hội nhóm môi giới mang thai hộ trên không gian mạng.
    • Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về cơ chế chứng minh, xác nhận quan hệ "thân thích cùng hàng" tại địa phương.
    • Tăng chế tài xử phạt, thanh tra đối với các cơ sở y tế và nhân viên y tế vi phạm hoặc tiếp tay cho đường dây đẻ thuê.
    • Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành giữa cơ quan Công an và ngành Y tế trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong phạm vi một nghiên cứu tốt nghiệp đại học chuyên ngành Luật Hình sự. Tác giả tự nhận định công trình còn một số hạn chế nhất định về kinh nghiệm thực tiễn và dung lượng nghiên cứu. Phạm vi khảo sát thực tiễn mới tập trung vào các quy định pháp luật thực định, một số bản án điển hình và vụ án trọng điểm được công bố, chưa có điều kiện khảo sát thực địa toàn diện trên quy mô các trung tâm hỗ trợ sinh sản trên toàn quốc.

Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài là theo dõi diễn biến thực tiễn xét xử sau khi các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS được bổ sung, đồng thời đánh giá tác động xã hội khi có các điều chỉnh lập pháp đối với chế định mang thai hộ trong Luật Hôn nhân và Gia đình và Luật Khám bệnh, chữa bệnh.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học (đặc biệt là bộ môn Luật Hình sự và Luật Hôn nhân & Gia đình), các cán bộ nghiên cứu pháp luật và cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) khi giải quyết các vụ án liên quan đến Điều 187 BLHS năm 2015.

Nội dung nghiên cứu có giá trị tham khảo cao ở các phần:

  • Hệ thống hóa kinh nghiệm lập pháp quốc tế về kiểm soát dịch vụ đẻ thuê tại Ấn Độ, Thái Lan và Liên minh Châu Âu.
  • Phân tích chi tiết cấu thành tội phạm và các tình tiết định khung tăng nặng tại Điều 187 BLHS.
  • Phân tích thực tế chi phí và thủ đoạn phạm tội qua trích lục Bản án phúc thẩm số 111/2021/HS-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của BLHS năm 2015, người phụ nữ trực tiếp mang thai hộ hoặc người nhờ mang thai hộ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 187 không? Theo quy định hiện hành tại Điều 187 BLHS năm 2015, chủ thể của tội phạm chỉ là người có hành vi "tổ chức" (người thiết lập, điều hành, môi giới, chỉ huy). Người trực tiếp mang thai hộ hoặc người nhờ mang thai hộ tự thỏa thuận không phải là chủ thể của tội danh này mà chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo Điều 60 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.

2. Mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 187 BLHS năm 2015 về tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại là bao nhiêu năm tù? Mức hình phạt tù cao nhất là 05 năm tù, áp dụng theo Khoản 2 Điều 187 khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp: (a) Đối với 02 người trở lên; (b) Phạm tội 02 lần trở lên; (c) Lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức; (d) Tái phạm nguy hiểm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

3. Tại sao tác giả khóa luận đề xuất sửa đổi tên Điều 187 thành "Tội mang thai hộ vì mục đích thương mại"? Tác giả đề xuất đổi tên điều luật nhằm mở rộng phạm vi chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc này cho phép xử lý hình sự đối với cả người mang thai hộ nhiều lần vì mục đích kiếm tiền và người nhờ mang thai hộ có hành vi nghiêm trọng (như bỏ rơi, từ chối nhận con hoặc ngược đãi trẻ), đồng thời chuyển dấu hiệu "có tổ chức" thành tình tiết định khung tăng nặng.

4. Trong Bản án số 111/2021/HS-PT được khóa luận dẫn chứng, các đối tượng tổ chức mang thai hộ đã thỏa thuận mức giá dịch vụ là bao nhiêu? Theo hồ sơ vụ án tại Bản án số 111/2021/HS-PT (phúc thẩm từ Bản án sơ thẩm số 236/2020/HS-ST của TAND TP. Hà Nội), chi phí tổ chức mang thai hộ được các đối tượng thỏa thuận với người nhờ mang thai hộ là từ 400.000.000 đồng đến 550.000.000 đồng tùy trường hợp; nếu mang thai đôi, người nhờ mang thai hộ phải trả thêm từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng và phải thanh toán trước một khoản tiền.

5. Đạo luật năm 2015 của Thái Lan quy định chế tài xử phạt như thế nào đối với các hành vi môi giới mang thai hộ? Theo Đạo luật Bảo vệ Trẻ em Sinh ra từ Công nghệ Hỗ trợ Sinh sản năm 2015 của Thái Lan, hành vi trung gian, môi giới hoặc công khai thông tin mang thai hộ (Điều 25, Điều 26) bị phạt tù không quá 5 năm hoặc phạt tiền không quá 100.000 baht (hoặc cả hai) theo quy định tại Điều 43 của Đạo luật này.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Tố Uyên đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý của Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại theo Điều 187 BLHS năm 2015. Thông qua việc phân tích cấu thành tội phạm, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và viện dẫn các bản án xét xử thực tế, công trình đã chỉ rõ những vướng mắc về khung chế tài và lỗ hổng trong quản lý y tế - xã hội. Các đề xuất sửa đổi lập pháp và giải pháp số hóa dữ liệu y tế trong khóa luận mang giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật hình sự và bảo vệ quyền con người tại Việt Nam.