CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÈ TỘI MUA BÁN NGUỜI 1. Một số vấn đề lý luận về tội mua bán người trong luật hình sự 1. Khái niệm, cơ sở và ý nghĩa việc quy định tội mua bán người ỉ. Khái niệm tội mua bán người Theo từ điển tiếng Việt “mua bán” được hiểu là: Hành vi trao đổi giữa hai bên, trong đó người mua hàng hay dịch vụ nhận được quyền sở hữu hàng hoá (hay dịch vụ) từ người bán hay người làm dịch vụ bang cách trả một số tiền theo giá cả hai bên thoả thuận, hoặc giá cả hợp pháp do nhà nước quy định chính thức [44], Trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam khái niệm tội mua bán người được hiểu tương đối thống nhất, chẳng hạn theo Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hòa, mua bán người được hiểu như sau: “Mua bán người là những hành vi dùng tiền hoặc phương tiện thanh toán khác như vàng, ngoại tệ.
đê trao đôi mua bán người như một thứ hàng hóa” [12, tr. Tương tự như quan điểm nêu trên, có tác giả khác cũng cho rằng: “Mua bán người, được hiểu là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc các phương tiện thanh toán khác đê trao đôi lẩy người hoặc ngược lại đê thu lợi bất chính” [17, tr. về mặt luật thực định, luật hình sự Việt Nam không quy định khái niệm pháp lý về tội mua bán người; tội mua bán người được quy định trong các điều luận phần “Các tội phạm” của BLHS, cụ thể: tội mua bán phụ nữ và tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em (BLHS năm 1985); tội mua bán phụ nữ và tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (BLHS nãm 1999); tội mua bán người (BLHS sửa đổi, bồ sung năm 2009); tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi (BLHS năm 2015). 14 Đê có cách hiêu thông nhât trong BLHS năm 1999 sửa đôi, bô sung năm 2009, Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA- BQP-BTP ngày 23/07/2013 hướng dẫn việc truy cứu TNHS (TNHS) đối với người có hành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em của TAND tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp đưa ra khái niệm mua bán người, cụ thế: Mua bán người là hành vi đang tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác để trao đổi người (từ đủ 16 tuổi trở lên) như một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây: 1.
Bán người cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích cùa người mua. Mua người để bán lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào? 3. Dùng người như là tài sản để trao đổi, thanh toán; 4. Mua người để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì các mục đích trái pháp luật khác; 5.
Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi nêu trên, đều bị truy cứu TNHS về tội mua bán người [3, Điều 1 ]. Trên thế giới, pháp luật quốc tế hiện nay không quy định khái niệm mua bán người mà quy định chung về khái niệm buôn bán người. Khái niệm buôn bán người được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế trong đó có Nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bố sung công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của liên hợp quốc (Nghị định thư Palermo). Văn kiện này được thông qua và mở cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 55/25 ngày 15/11/2000 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
Theo 15 quy định tại Điêu 3 của Nghị định thu này, khái niệm buôn bán nguời được hiểu như sau: a) "Buôn bán người" có nghĩa là việc mua bán, vận chuyền, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt, hay lạm dụng quyền lực hoặc vị the dễ bị tổn thương hay bàng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý cùa một người đang kiểm soát những người khác. Hành vi bóc lột sẽ bao gồm, ít nhất, việc bóc lột mại dâm những người khác hay những hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay phục vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy các bộ phận cơ thể; b) Sự chấp thuận của một nạn nhân của việc buôn bán người đối với sự bóc lột có chủ ý được nêu ra trong khoản (a) của điều này là không thích đáng nếu bất kỳ cách thức nào nêu trong khoản (a) đã được sử dụng. c) Việc mua, vận chuyền, chuyển giao, chứa chấp hay nhận một đứa trẻ nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là "buôn bán người" ngay cả khi việc này được thực hiện không cần dùng đến bất kỳ cách thức nào được nói đến trong khoản (a) điều này [4, tr. Khái niệm buôn bán người theo quy định của Nghị định thư Palermo tập trung vào các yếu tố: Thứ nhất, về hành vi, buôn bán người bao gồm: hành vi tuyền mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người.
• thực Thứ hai,' về thủ đoạn • hành vi là đe dọa • hiện • sử dụng • hoặc • vũ lực • hoặc các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa đảo, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị thương tổn, đưa hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người có quyền kiểm soát đổi với người khác. 16 Thứ ba, vê mục đích là nhăm bóc lột người bị mua bán (bóc lột vì mục đích mại dâm hoặc các hành vi bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, làm khổ sai hay lấy các bộ phận cơ thể). Đây là khái niệm có tính chính thống về buôn bán người theo tinh thần Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư bổ sung Công ước về chống buôn bán người. Khái niệm này được sử dụng phố biến trong hoạt động chống buôn bán người trên thế giới và được luật hóa trong pháp luật của nhiều quốc gia.
Ngoài Nghị định thư Palermo, một số văn kiện pháp luật quốc tế cũng đưa ra khái niệm liên quan đến buôn bán người, trong đó có nhiều điếm tương đồng với khái niệm cùa Nghị định thư chống buôn bán người, nhưng do được tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, nên chưa có khái niệm nào đầy đủ, toàn diện như khái niệm được nêu trong Nghị định thư Palermo. Theo Liên minh toàn cầu chống buôn bán phụ nữ GAATW (Global Alliance Against Trafficking of Women) phối hợp với các tồ chức Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ đã đưa ra khái niệm khái quát về buôn bán người là: Mọi hoạt động có ý tham gia vào việc tuyển mộ, chuyên chở trong nước hoặc qua biên giới, mua, bán, chuyển, chứa chấp hoặc nhận một người bằng thủ đoạn lừa gạt và cưỡng bức, kể cả việc dùng hoặc đe dọa dùng bạo lực, lạm dụng quyền hành hoặc lợi dụng tình hình nợ chồng chất của người đó để đưa hoặc buộc họ làm việc trong tình trạng nô lệ không tự nguyện (việc nhà, tình dục hoặc sinh sàn) không hoặc có được trả công, lao động cưỡng bức hoặc có giao kèo, hoặc lao động trong các điều kiện nô lệ trong một cộng đồng mà không phải nơi mà người đó sống khi bị lừa gạt, cưỡng bức hay nợ chồng chất ban đầu. Tố chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra khái niệm buôn bán người, 17 như sau: Buôn bán người là việc tuyên dụng, vận chuyên, chuyên giao, che giấu hoặc tiếp cận người bằng cách đe dọa hoặc dùng vũ lực hoặc các hình thức khác như ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt, lạm dụng quyền lực hay địa vị, tình trạng dễ bị tổn thương hoặc việc đưa hoặc nhận tiền hoặc lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người mà người đó đang có quyền kiểm soát một người khác, nhằm mục đích bóc lột. Việc bóc lột bao gồm, bóc lột làm nghề mại dâm hoặc những hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hoặc phục vụ bắt buộc, tình trạng nô lệ hoặc những việc làm tương tự như tình trạng nô lệ, khổ sai hay cất đi những bộ phận cơ thể con người.
Do có những đặc điểm riêng về truyền thống lịch sử, văn hóa xã hội, điều kiện kinh tế mà pháp luật của mỗi quốc gia quy định về khái niệm buôn bán người khác nhau. Pháp luật của một số quốc gia quy định khái niệm “buôn bán người” theo những chuẩn mực pháp lý quốc tế, thì cũng có một số quốc gia khác, khái niệm này chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp hoặc có những điểm không tương đồng với quy định của pháp luật quốc tế. Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và quy định của pháp luật hình sự quốc tế về tội mua bán người, có thể thấy rằng khái niệm mua bán người ở Việt Nam đã có một số điểm tương đồng với quy định của pháp luật quốc tế, đó là: đã quy định là tội phạm hình sự đối với hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng các thủ đoạn khác đe chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng các thủ đoạn khác để chuyển giao hoặc tiếp nhận người đế giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao 18 động, lây bộ phận cơ thê của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác. Đồng thời, quy định các mục đích mua bán nguời đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân, để đưa ra nước ngoài, để sử dụng vào mục đích mại dâm hoặc mục đích vô nhân đạo là các tình tiết định khung hình phạt.