CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Theo Từ điển Tiếng Việt thì thuật ngữ “lạm dụng” được hiểu là “dùng, sử 1 dụng quá mức hoặc quá giới hạn đã được quy định” Trong Thông tư số 03/BTP/TT năm 1976 lần đầu cụm từ lạm dụng được định nghĩa về mặt pháp lý khi giải thích hành vi bội tín “Bội tín (hoặc lạm dụng tín nhiệm) khác lừa đảo… sau khi nhận được một công việc nào đó( qua thoả thuận miệng hoặc quá ký kết hợp đồng.) kẻ được giao tài sản đã không thực hiện được nghĩa vụ cam kết, lại lợi dụng sự tín nhiệm nào đó để chiếm đoạt một 2 phần hoặc toàn bộ tài sản” Đối với thuật ngữ tín nhiệm được hiểu là “tin tưởng mà giao phó, trông 3 cậy vào nhiệm vụ, sự việc cụ thể nào đó”. Chiếm đoạt được định nghĩa “là hành vi cố ý (trực tiếp) làm cho chủ tài sản mất hẳn khả năng thực tế thực hiện quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với tài sản của mình và tạo ra cho người phạm tội khả năng thực hiện việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản đó.
Các tác giả Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng có quan điểm: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả 4 năng trả lại tài sản. 1 Hoàng Phê (2005), Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn Học, NXB. Văn Lang, Hà Nội 2 Bộ tư pháp, Thông tư số 03/BTT-TT 3 Hoàng Phê (2005), tlđd (1), tr.109 4 Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng (2017), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Nxb Thế Giới, Hà Nội. 8 Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học luật Tp.
Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm về tội LDTNCĐTS như sau: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác 5 giá trị từ .” Khái niệm của tác giả Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng và của Trường Đại học Luật Hà Nội hay Giáo trình của Trường Đại học luật Tp. HCM đều đã nêu được bản chất của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (LDTNCĐTS ) là hành vi chiếm đoạt tài sản với các thủ đoạn đặc trưng của tội này. Tuy nhiên, các khái niệm này vẫn chưa nêu lên được yếu tố chủ thể, khách thể và lỗi của tội này. Tác giả cho rằng các quan điểm nêu trên đều có những nhân tố hợp lý, đã nêu lên được bản chất và các thủ đoạn của của hành vi LDTN CĐTS là tiếp cận tài sản bằng các hình thức hợp pháp như vay, mượn rồi sau đó dùng các thủ đoạn gian dối nhằm CĐTS.
Trong BLHS năm 2015 thì tội LDTN CĐTS được quy định tại Điều 175 thuộc chương XVI, thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, là “hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của chủ sở hữu tài sản thành tài sản của mình” Tuy nhiên, để xây dựng khái niệm hoàn chỉnh về tội LDTN CĐTS thì theo tác giả khái niệm cần phản ánh được các dấu hiệu chủ thể, khách thể, các yếu tố đặc trưng của mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm này.Trên cơ sở kế thừa về mặt lý luận cũng như những quan điểm của các nhà khoa học và quy định tại Điều 175 BLHS năm 2015, tác giả đưa ra khái niệm tội LDTN CĐTS như sau: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi luật định, thực hiện một cách cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của người khác thành tài sản của mình bằng thủ đoạn vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. 5 Đại học luật Thành Phố Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình luật hình sự Phần các tội phạm, Nxb. Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 1.Các dấu hiệu định tội * Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị 6 tội phạm xâm hại tới. Mỗi tội phạm xâm hại khách thể chung, khách thể loại, khách thể trực tiếp.
Tội LDTN CĐTS được quy định tại Điều 175 Chương XVI, thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu. Khách thể trực tiếp của tội này là quyền sở hữu tài sản của người khác. Theo Bộ luật dân sự( BLDS) năm 2015 thì “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của 7 chủ sở hữu theo quy định của luật”. Như vậy, hành vi LDTN CĐTS đã làm cho người quản lý tài sản hợp pháp mất khả năng chiếm hữu (nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp), sử dụng (khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản), định đoạt (quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu huỷ tài sản).
Tuy nhiên, không phải tất cả các tài sản theo quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015 “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” đều là đối tượng của tội LDTN CĐTS. Các loại đối tượng đặc biệt như vũ khí quân dụng, tàu bay, tàu biển, đất đai. là đối tượng tác động của tội phạm khác (xâm phạm khách thể khác được luật hình sự bảo vệ như chế độ quản lý của nhà nước về vũ khí. Ngoài ra, đối với tài sản là giấy tờ có giá phải là giấy tớ có giá vô danh như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái.các loại giấy tờ này khi bị chiếm đoạt thì quyền sở hữu của chủ sở hữu mới bị ảnh hưởngvà có khả năng xác lập quyền sở hữu cho người phạm tội.
Mặt khác, đối với tài sản là quyền tài sản (là quyền trị giá được bằng tiền có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự) như quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất.không phải là đối tượng tác động của tội này. * Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của tội phạm bao gồm hành vi, hậu quả, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả cũng như các yếu tố công cụ, phương tiện phạm tội. 6 Đại học luật Thành Phố Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình luật hình sự Phần Chung, Nxb. Hồng Đức 7 Quốc Hội, Bộ Luật dân sự năm 2015, Nxb.
Chính trị Quốc Gia, Hà Nội năm 2016 10 - Hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Hành vi khách quan của tội LDTN CĐTS được thể hiện dưới dạng hành động, đó là hành vi chiếm đoạt tài sản, hành vi này được hiểu là người phạm tội cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác thành tài sản của mình. Hành vi chiếm đoạt được thực hiện bằng nhiều phương pháp, thủ đoạn khác, những thủ đoạn mà người phạm tội dùng để chiếm đoạt tài sản được thực hiện chủ yếu bằng hình thức: + Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả. + Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Trong quá trình xác định hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội được thưc hiện bởi các thủ đoạn gian dối cần lưu ý một số vấn đề: Thứ nhất, đối với hành vi bỏ trốn của người phạm tội cần phải xem xét một cách khách quan, toàn diện, nếu người phạm tội bỏ trốn hoặc tránh mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản vì nguyên nhân khách quan như lo sợ chủ nợ uy hiếp, thay đổi nghề nghiệp… thì không coi là bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, trường hợp “Bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” vẫn chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải thích, hướng dẫn. Trong thực tiễn, một người sau khi vay, mượn, thuê tài sản bằng các hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn, nhưng để chứng minh họ có bỏ trốn, nhằm chiếm đoạt tài sản hay không là vấn đề còn nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, nên đã phát sinh nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng, chỉ cần xác định được tình tiết một người nào đó sau khi nhận được tài sản bằng các hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn không trả tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp là đủ cơ sở kết luận người đó phạm tội LDTN CĐTS, không phụ thuộc vào lý do bỏ trốn của họ là nhằm mục đích gì. Đa số các chuyên gia cho rằng, “bỏ trốn” quy định tại Điều 175 BLHS năm 2015 không nhất thiết phải là trốn khỏi địa phương, cũng không cần Cơ quan điều tra phải truy nã, mà 11 chỉ trốn tránh chủ nợ như: Bỏ ra khỏi nhà, không nghe điện thoại, không trả lời tin nhắn, thay số điện thoại, thay đổi chỗ ở mà không thông báo cho chủ nợ 8 biết… miễn sao tránh mặt được chủ nợ Trong khi đó, thực tế đã chứng minh, không phải tất cả mọi trường hợp bỏ trốn đều có ý thức chiếm đoạt tài sản.