Báo cáo phân tích thực trạng thu ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2020-2022

Báo cáo toàn cảnh thu ngân sách nhà nước Việt Nam 2020-2022. Phân tích số liệu, thực trạng và các yếu tố tác động đến nền kinh tế.

Trường đại học

Đại học Hoa Lư

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên

2024

67
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái quát về ngân sách nhà nước Việt Nam

Ngân sách nhà nước là một công cụ tài chính quan trọng của Nhà nước Việt Nam, đóng vai trò thiết yếu trong việc điều tiết nền kinh tế và phân bổ nguồn lực xã hội. Giai đoạn 2020-2022 chứng kiến những thay đổi đáng kể trong tình hình kinh tế-xã hội, khi đất nước phải đối mặt với những thách thức từ đại dịch COVID-19. Thu ngân sách nhà nước trở thành ưu tiên hàng đầu để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động phòng chống dịch bệnh và phục hồi kinh tế. Các chính sách cải cách thuế và hoàn thiện bộ máy thu nộp đã được triển khai nhằm nâng cao hiệu quả thu chi ngân sách. Sự ổn định của ngân sách nhà nước trong giai đoạn này phản ánh mức độ chính sách tài khóa linh hoạt của Chính phủ Việt Nam.

1.1. Định nghĩa và vai trò của ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước Việt Nam là tập hợp các khoản thu và chi của Nhà nước, quản lý bởi các cơ quan tài chính nhà nước. Vai trò chính bao gồm: (1) Cấp vốn cho phát triển kinh tế-xã hội; (2) Đảm bảo an sinh xã hội cho nhân dân; (3) Duy trì hoạt động bộ máy Nhà nước; (4) Điều tiết nhu cầu tài chính quốc gia. Trong giai đoạn 2020-2022, ngân sách nhà nước tập trung hỗ trợ các hoạt động chống dịch bệnh và phục hồi kinh tế, làm tăng chi tiêu công.

1.2. Những đặc điểm nổi bật giai đoạn 2020 2022

Giai đoạn 2020-2022 đánh dấu những thay đổi đáng chú ý trong cơ cấu thu ngân sách nhà nước. Thu từ thuế giá trị gia tăng (GTGT)thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Tuy nhiên, tình hình kinh tế-xã hội bị ảnh hưởng bởi COVID-19 khiến quy mô thu NSNN biến động. Năm 2020 ghi nhận suy giảm, nhưng từ 2021-2022 thu ngân sách dần phục hồi. Chính sách thuế được điều chỉnh linh hoạt để vừa hỗ trợ doanh nghiệp vừa đảm bảo doanh thu ngân sách nhà nước.

II. Thực trạng thu ngân sách nhà nước 2020 2022

Thu ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2020-2022 phản ánh những khó khăn lẫn cơ hội trong bối cảnh toàn cầu. Năm 2020 chứng kiến suy giảm tổng thu do tác động của đại dịch, với GDP bình quân đầu người giảm và các hoạt động kinh tế bị hạn chế. Tuy nhiên, từ năm 2021-2022, tình hình kinh tế bắt đầu phục hồi, thu ngân sách nhà nước tăng trở lại. Cấu trúc thu NSNN chủ yếu từ các khoản thuế nội địa, trong đó thuế giá trị gia tăngthuế hải quan là những nguồn thu quan trọng. Quy mô thu so với GDP của Việt Nam dao động trong khoảng 13-15%, cho thấy khả năng huy động nguồn lực tài chính của Nhà nước.

2.1. Tổng thể kết quả thu NSNN theo năm

Năm 2020: Thu ngân sách nhà nước đạt mức thấp do tác động COVID-19, với tổng thu NSNN giảm khoảng 5-8% so với dự toán. Năm 2021: Tình hình kinh tế dần ổn định, thu ngân sách nhà nước tăng trở lại, quy mô thu vượt mức dự toán. Năm 2022: Thu NSNN tiếp tục tăng, phản ánh sự phục hồi kinh tế chung của đất nước. Cấu trúc thu duy trì tính đa dạng từ các nguồn thuế khác nhau, đảm bảo ổn định cho ngân sách nhà nước Việt Nam.

2.2. Phân tích các nguồn thu chính

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là nguồn thu lớn nhất, chiếm khoảng 30-35% tổng thu thuế nội địa. Thuế thu nhập doanh nghiệp đứng thứ hai với tỷ trọng 20-25%. Thuế hải quanthuế tiêu thụ đặc biệt cùng đóng góp quan trọng. Ngoài thu thuế, các khoản thu phi thuế như lệ phí hành chính cũng tăng. Cấu trúc thu NSNN này thể hiện sự phát triển kinh tếmở cửa thương mại của Việt Nam.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước

Thu ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2020-2022 chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố kinh tế-xã hội. GDP bình quân đầu người là chỉ số quan trọng, thể hiện khả năng trả thuế của dân cư và doanh nghiệp. Năm 2020, GDP giảm do dịch bệnh, nhưng phục hồi từ 2021. Tình hình kinh tế chịu tác động bởi xuất khẩu tài nguyên, hoạt động FDI, và phục hồi tiêu dùng nội địa. Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy thu nộp, kiểm soát chặt chẽ kê khai thuế, và chống thất thu ngân sách đóng vai trò thiết yếu. Các nhân tố khác như lạm phát, tỷ giá hối đoái cũng tác động đến quy mô thu NSNN.

3.1. Tác động của GDP và tăng trưởng kinh tế

GDP bình quân đầu người là yếu tố cơ bản quyết định khả năng thu ngân sách nhà nước. Năm 2020, GDP của Việt Nam tăng 2,91%, thấp hơn so với năm 2019 do COVID-19. Năm 2021-2022, tăng trưởng GDP phục hồi với mức 6-8%, giúp thu ngân sách tăng theo. Tây nguyên, Đông Nam Bộ là những vùng có GDP cao, đóng góp lớn cho tổng thu ngân sách nhà nước. Hoạt động sản xuất-kinh doanh sôi động dẫn đến tăng thêm thu thuế.

3.2. Khả năng xuất khẩu và yếu tố ngoại tệ

Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam giai đoạn 2020-2022 phát triển mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực hàng dệt may, điện tử, nông sản. Tăng trưởng xuất khẩu dẫn đến tăng thu hải quanthuế giá trị gia tăng từ hoạt động ngoại thương. Tỷ giá hối đoái biến động ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp xuất nhập khẩu, từ đó tác động thu thuế thu nhập. Các hiệp định thương mại tự do như CPTPP, RCEP mở rộng cơ hội xuất khẩu, hỗ trợ nâng cao quy mô thu ngân sách.

IV. Kiến nghị cải thiện thu ngân sách nhà nước

Để nâng cao hiệu quả thu ngân sách nhà nước, Việt Nam cần triển khai một số giải pháp chiến lược giai đoạn tới. Thúc đẩy phát triển kinh tế là nền tảng, giúp tăng thêm nguồn thu. Cải cách chính sách thuế cần tiếp tục, bao gồm đơn giản hóa quy trình khai thuếtăng cường công tác kiểm tra. Quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững sẽ bảo đảm thu lâu dài. Hoàn thiện bộ máy thu ngân sách thông qua nâng cao chất lượng cán bộ tài chínhứng dụng công nghệ thông tin. Chống thất thunợ thuế cần được ưu tiên, đặc biệt là kiểm soát chặt chẽ đối với doanh nghiệp có sai phạm.

4.1. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải cách thuế

Tăng trưởng kinh tế bền vững là chìa khóa để nâng cao thu ngân sách nhà nước. Cần phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, thu hút đầu tư nước ngoài. Cải cách chính sách thuế cần giảm áp lực hành chính, tăng cường công khai minh bạch trong quản lý thuế. Hệ thống kê khai thuế điện tử giúp nâng cao tuân thủ thuếgiảm gian lận thuế. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi sẽ khuyến khích doanh nghiệp mở rộng hoạt động.

4.2. Hoàn thiện quản lý thu và chống thất thu

Hoàn thiện bộ máy thu ngân sách nhà nước đòi hỏi tập huấn cán bộ tài chính, nâng cao năng lực kiểm tra-kiểm soát. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu giúp tự động hóa quy trình, giảm lỗi con người. Chống thất thu ngân sách thông qua kiểm tra định kỳ, xử phạt vi phạm thuế nghiêm minh. Thu nợ thuế cần được ưu tiên cao, có lộ trình thu hồi cụ thể. Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế, Kho bạc Nhà nước, ngân hàng để nâng cao hiệu quả thu chi ngân sách.

18/12/2025
Tìm hiểu tình hình thu ngân sách nhà nước của việt nam giai đoạn 2020 2022

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm ngân sách nhà nước NSNN là dự toán thu - chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Như vậy, NSNN là một kế hoạch tài chính cơ bản của quốc gia, trong đó gồm có kế hoạch thu, kế hoạch chi và được lập theo phương pháp cân đối (thu phải đủ chi, chi không vượt thu).

Theo Luật ngân sách nhà nước Việt Nam (2015) “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.” Năm ngân sách hay còn gọi là năm tài chính, là giai đoạn mà trong đó, dự toán thu - chi tài chính đã được phê chuẩn của Quốc hội có hiệu lực thi hành. Ở tất cả các nước, năm ngân sách đều có thời hạn bằng một năm dương lịch, nhưng thời điểm bắt đầu và kết thúc ở mỗi nước có khác nhau. Ở đa số các nước, năm ngân sách trùng với năm dương lịch (bắt đầu ngày 1/1 và kết thúc vào ngày 31/12), như: Pháp, Bỉ, Hà Lan, Trung Quốc, Philippine,. Ở các nước khác, thời điểm bắt đầu và kết thúc năm ngân sách thường rơi vào tháng 3, 4, 6 hoặc 7 hàng năm.

Cụ thể là: Anh, Nhật, Canada, Singapore,. có năm ngân sách bắt đầu vào ngày 1/4 năm trước và kết thúc vào ngày 31/3 năm sau; Ý, Na - Uy, Đài Loan,. có năm ngân sách bắt đầu vào ngày 1/7 năm trước và kết thúc vào ngày 30/6 năm sau; Mỹ có năm ngân sách bắt đầu vào ngày 1/10 năm trước và kết thúc vào ngày 30/9 năm sau. Việc quy định năm ngân sách hoàn toàn là ý định chủ quan của Nhà nước.

Tuy nhiên, ý định này cũng bắt nguồn từ những yếu tố tác động khác nhau, trong đó có hai yếu tố cơ bản là: Đặc điểm hoạt động của nền kinh tế có liên quan đến nguồn thu của ngân sách Nhà nước (chế độ kế toán, thống kê; tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp). 1 Đặc điểm hoạt động của cơ quan lập pháp (các kỳ họp của Quốc Hội để phê chuẩn NSNN. Ở nước ta, năm ngân sách bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm. Điều này phù hợp với các kỳ họp của Quốc Hội.

Đặc điểm của ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước bao gồm những đặc điểm sau Thứ nhất, ngân sách nhà nước là một kế hoạch tài chính quan trọng cần được quốc hội biểu quyết thông qua trước khi thi hành. Đặc điểm này cho ta thấy việc thiết lập ngân sách nhà nước không chỉ là vấn đề kỹ thuật nghiệp vụ mà còn là vấn đề mang tính kỹ thuật pháp lý, do đó nó vừa phản ánh các hành vi kinh tế (lập dự trù các khoản thu, chi sẽ được thực hiện trong tương lai), vừa thể hiện các hành vi pháp lý của chủ thể có thẩm quyền (cơ quan hành pháp có trách nhiệm lập dự toán ngân sách và cơ quan lập pháp có thẩm quyền quyết định bản dự toán đó). Thứ hai, ngân sách nhà nước không phải là một bản kế hoạch tài chính thuần túy mà còn là một đạo luật. Theo thông lệ, sau khi bản dự toán ngân sách nhà nước đã được soạn thảo bởi cơ quan hành pháp thì nó sẽ được chuyển sang cho cơ quan lập pháp xem xét quyết định và ban bố dưới hình thức một đạo luật để thi hành.

Thứ ba, ngân sách nhà nước là kế hoạch tài chính của toàn quốc gia, được trao cho chính phủ tổ chức thực hiện nhưng phải đặt dưới sự giám sát của quốc hội. Việc thiết lập quyền giám sát của quốc hội đối với hoạt động thi hành ngân sách của chính phủ nhằm kiểm soát nguy cơ lạm quyền của cơ quan hành pháp trong quá trình thực thi ngân sách nhà nước. Thứ tư, ngân sách nhà nước được thiết lập và thực thi hoàn toàn vì mục tiêu mưu cầu lợi ích chung cho toàn thể quốc gia, không phân biệt người hưởng thụ các lợi ích đó là ai, thuộc thành phần kinh tế nào hay đẳng cấp nào trong xã hội. Thứ năm, ngân sách nhà nước luôn phản ánh mối tương quan giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp trong quá trình xây dựng và thực hiện 2 ngân sách.

Theo đó, cơ quan lập pháp ban hành ra ngân sách nhà nước dựa trên sự xây dựng của chính phủ, sau đó chính phủ là người trực tiếp thi hành bản ngân sách này dưới sự giám sát của cơ quan lập pháp. Vai trò của NSNN NSNN là khâu quan trọng nhất của tài chính tập trung và kế hoạch tài chính cơ bản, toàn diện của đất nước. Nó có vai trò then chốt trong hệ thống tài chính và có vai trò quyết định đến sự phát triển của hệ thống kinh tế - xã hội. Vai trò của ngân sách nhà nước được xác định căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ cụ thể của ngân sách trong từng thời kỳ cụ thể.

Cách thức hoạt động của ngân sách quốc gia là thước đo hiệu quả quản lý và lãnh đạo quốc gia. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của NSNN là huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Đây là vai trò lịch sử của ngân sách nhà nước, mà trong cơ chế nào và trong thời đại nào ngân sách nhà nước cũng phải thực hiện. Vai trò này của ngân sách nhà nước được xác định trên cơ sở bản chất kinh tế của ngân sách nhà nước.

Sự hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định. Các nhu cầu chi tiêu của nhà nước phải được thỏa mãn từ các nguồn thu bằng hình thức thuế và thu ngoài thuế. Việc huy động nguồn thu vào tay nhà nước để đảm bảo các yêu cầu chi tiêu cần thiết phải chú ý đến ba vấn đề: Mức động viên vào ngân sách nhà nước đối với các thành viên trong xã hội qua thuế và các khoản thu khác (có liên quan) phải hợp lý. Mức động viên cao hay thấp đều có tác dụng tiêu cực.

Tỉ lệ động viên vào ngân sách nhà nước đối với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vừa đảm bảo hợp lý với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, vừa đảm bảo cho đơn vị cơ sở có điều kiện tích tụ vốn để tái sản xuất mở rộng. Các công cụ kinh tế được sử dụng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và thực hiện các khoản chi tiêu của NSNN. NSNN cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội của nhà nước. 3 Khi đề cập đến các công cụ tài chính trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội, nhà nước không thể không sử dụng một công cụ rất quan trọng, đó là ngân sách nhà nước.

Bởi lẽ, phạm vi phát huy vai trò của ngân sách nhà nước rất rộng và trên một mức độ lớn, nó tương đồng với phạm vi phát huy chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Hay nói cách khác, do cơ chế thị trường cần thiết phải có sự điều chỉnh vĩ mô từ phía nhà nước. Song, nhà nước cũng chỉ có thể thực hiện điều chỉnh thành công khi có nguồn tài chính đảm bảo, tức là khi sử dụng triệt để và có hiệu quả công cụ ngân sách nhà nước. Vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội của ngân sách nhà nước có thể được khái quát hóa trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và thị trường như sau ❖ Về mặt kinh tế Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.

Ngân sách nhà nước cung cấp nguồn kinh phí để nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, để trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Việc hình thành các doanh nghiệp nhà nước cũng là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp trong những trường hợp cần thiết đảm bảo cho sự ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị chuyển đổi sang cơ cấu mới, cao hơn. Thông qua các khoản thuế và chính sách thuế sẽ đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. Các nguồn vay nợ từ nước ngoài và trong nước sẽ tạo thêm nguồn vốn cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn vay nợ của nhà nước cũng là một vấn đề cần phải xem xét thận trọng khi quyết định thực hiện các biện pháp huy động tiền vay. 4 ❖ Về mặt xã hội Đầu tư của ngân sách để thực hiện các chính sách xã hội: chi giáo dục - đào tạo, y tế, kế hoạch hóa gia đình, văn hóa, thể thao, truyền thanh, chi bảo đảm xã hội, sắp xếp lao động và việc làm, trợ giá mặt hàng,. Thông qua thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm điều tiết thu nhập để phân phối lại cho các đối tượng có thu nhập thấp. Thông qua thuế gián thu nhằm hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm.

Tuy nhiên, vấn đề sử dụng công cụ NSNN để điều chỉnh các vấn đề xã hội không đơn giản, đòi hỏi phải được nghiên cứu đầy đủ và phải có sự thống nhất giữa chính sách và biện pháp. Chẳng hạn: Khi trợ giá điện, xăng dầu, công tác truyền hình. thì những đối tượng được hưởng không phải là người nghèo, mà chính là những người có thu nhập trung bình hoặc cao. ❖ Về mặt thị trường Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các chính sách về ổn định giá cả, thị trường và chống lạm phát.

Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí, và chính sách chi ngân sách nhà nước có thể điều chỉnh được giá cả, thị trường một cách chủ động. Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính chất chiến lược.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ