CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí và vai trò của Toà án nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm Tòa án nhân dân cấp huyện Tư pháp là một lĩnh vực quyền lực nhà nước, trong đó hoạt động tư pháp là hoạt động giải quyết các tranh chấp trong xã hội, xử lý các vi phạm pháp luật. Hoạt động đó liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích của con người, của công dân được thực hiện thông qua việc phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích của các chủ thể pháp luật.
Nói đến tư pháp là nói đến việc xét xử theo pháp luật và quyền tư pháp do hệ thống Tòa án độc lập thực hiện với chức năng đặc trưng là xét xử, là một phương thức thực thi quyền lực nhà nước. Từ xưa, một người có oan khuất thường tìm đến cửa quan để đánh trống kêu oan mong được minh xét. “Tòa án” lúc bấy giờ chưa được gọi là Tòa án, nhưng khái niệm về một mô hình có chức năng bảo vệ công lý như vậy thời nào cũng có và luôn được chú trọng. Ở giai đoạn sơ khai của văn minh loài người, công lý được thể hiện khá rõ nét thông qua cơ chế dĩ oán báo oán, với nguyên tắc “công bằng”: mắt đền mắt, răng đền răng.
Giai đoạn tiếp theo, các hình thức bồi thường, phạt vạ xuất hiện nhằm đảm bảo tinh thần hòa hảo trong nội bộ tổ chức. Đến giai đoạn thứ ba, để duy trì hòa bình, trật tự, ổn định của toàn xã hội, thiết chế “Tòa án” đã được thành lập để thẩm định, đánh giá mức độ thiệt hại, từ đó hoà giải, điều đình cho các xung đột giữa các cá nhân trong xã hội. Công lý và tư pháp xét xử đã vững bước song hành qua các kiểu Nhà nước khác nhau. Ngay từ khi ra đời Nhà nước quản lý xã hội bằng cách biến ý chí của giai cấp thống trị thành pháp luật và dùng các công cụ, biện pháp quyền 8 lực để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện.
Tòa án là cơ quan nhân danh Nhà nước thực hiện việc xét xử, bảo vệ công lý; hiệu lực, hiệu quả xét xử của Tòa án là thước đo tính dân chủ, công bằng và lòng tin của nhân dân. Bản chất hoạt động xét xử của Tòa án là áp dụng pháp luật và thông qua đó Tòa án chuyển tải, thể hiện quyền lực nhà nước, ý chí của giai cấp thống trị vào đời sống xã hội. Do đó, tổ chức và hoạt động tư pháp, nhất là của Tòa án một mặt phải hiệu quả, bảo vệ quyền con người, lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vì vậy mà TAND là nơi thể hiện công lý trong bộ máy nhà nước và không thể thiếu trong hệ thống bộ máy nhà nước.
Theo Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [1, tr. Bằng quy định này, lần đầu tiên trong Hiến pháp, cơ quan thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam được khẳng định là Tòa án nhân dân, theo đó, quyền tư pháp được hiểu là quyền xét xử, là quyền lực nhà nước giao cho Tòa án thực hiện, bao gồm trước hết là quyền xét xử và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; áp dụng, kiểm tra, hoặc hủy bỏ việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước hạn chế quyền con người, quyền công dân; áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo quy định của pháp luật; quyết định, giám sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án; hướng dẫn thống nhất áp dụng pháp luật; kiểm soát hoạt động tư pháp, hoạt động của cơ quan hành pháp theo cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước và các quyền khác bảo đảm để Tòa án thực thi quyền lực tư pháp theo quy định của pháp luật. Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức TAND năm 2014 tại Điều 2 quy định rõ thẩm quyền xét xử của Tòa án: “Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn 9 nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật” [2, tr. Chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất được nhân danh Nhà nước xét xử, kết luận một người có tội hay không có tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội.
Việc pháp luật quy định như vậy nhằm đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tránh tùy tiện trong việc kết tội một ai đó vì việc kết tội một ai đó sẽ gây hậu quả, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản, sức khỏe, tính mạng, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân. Hiến pháp 2013 đã quy định lại vị trí, chức năng của TAND theo hướng mới xây dựng nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân là phù hợp với xu hướng chung của thế giới về hoạt động tư pháp của Tòa án. Với việc thực hiện chức năng xét xử, TAND có vai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là nơi nhân dân gửi gắm niềm tin trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật. Vai trò đó được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức TAND năm 2014.
Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: “TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý; bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” [1, tr. Như vậy, TAND cấp huyện là cơ quan xét xử được tổ chức ở đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, có nhiệm vụ sơ thẩm các vụ việc theo quy định của pháp luật. Đặc điểm tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân cấp huyện 10 Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, công cuộc cải cách tư pháp đã được các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo và tổ chức thực hiện với quyết tâm cao, đạt được nhiều kết quả. Nhận thức và sự quan tâm đối với công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực; chất lượng hoạt động tư pháp đã được nâng lên một bước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, những kết quả đó mới là bước đầu và mới tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc nhất. Đảng ta nhận định: “…Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý. Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã ban hành nghị quyết 49/NQ-TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Nghị quyết 49/NQ-TW đã thể hiện quyết tâm cao của Đảng ta nhằm cải cách cơ bản, sâu rộng nền tư pháp nước nhà.
Theo đó, nền tư pháp Việt Nam là nền tư pháp Xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, vì nhân dân, phục vụ nhân dân. Đối với hệ thống Tòa án nhân dân, Nghị quyết 49/NQ-TW nêu rõ: “Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp”. Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân theo hướng: “Tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính” [8]. Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định tổ chức Tòa án 4 cấp, trong đó: “Tòa án nhân dân cấp huyện có chức năng xét xử sơ thẩm các vụ án theo thẩm quyền và giải quyết các việc khác theo quy định pháp luật” [9].
Kết luận 92/KL-TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực 11 hiện Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa X về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xác định về tổ chức Tòa án nhân dân: Tiếp tục thực hiện chủ trương tổ chức Tòa án nhân dân theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính. Tòa án nhân dân được tổ chức 4 cấp như Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị [10]. Ngày 24/11/2014, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, được Quốc Hội nước công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua là bước ngoặt quan trọng trong cơ cấu, tổ chức của hệ thống Tòa án. Tại điều 3 của Luật TCTAND năm 2014 qui định hệ thống Tòa án nước ta sẽ được tổ chức theo 4 cấp, gồm: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện [11].
Như vậy, TAND cấp huyện là một bộ phận của hệ thống TAND thực hiện chức năng xét xử ở phạm vi lãnh thổ cấp huyện. Đây là cấp Tòa án thực hiện xét xử thấp nhất tại địa phương đối với các vụ án được pháp luật quy định.