Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật với đề tài "Tăng cường tính độc lập của Tòa án trong đấu tranh phòng chống tham nhũng tại Việt Nam" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Minh Đức (MSSV: 0955040170), dưới sự hướng dẫn của Th.S Vũ Thị Bích Hường tại Khoa Luật Hành chính, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Niên khóa 2009 – 2013).
Vấn đề nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh thực tiễn của công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) tại Việt Nam trong giai đoạn đổi mới và hội nhập. Tham nhũng được Đảng và Nhà nước xác định là một thứ "giặc nội xâm" nguy hiểm, gắn liền với sự tha hóa quyền lực nhà nước, gây tác hại to lớn đến sự phát triển kinh tế, trật tự an toàn xã hội và làm suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân. Mặc dù hệ thống văn bản pháp luật về PCTN liên tục được hoàn thiện (như Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2012, Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 ban hành theo Nghị quyết số 21/NQ-CP năm 2009), tình trạng tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng nghiêm trọng đã được đưa ra xét xử (như vụ Vinashin, Vinalines, PMU18, dự án Đại lộ Đông - Tây...), nhưng kết quả đấu tranh nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu. Dư luận xã hội và các diễn đàn lập pháp xuất hiện nhiều băn khoăn về tính nghiêm minh trong xét xử, điển hình là tình trạng tội phạm tham nhũng được áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo chiếm tỷ lệ cao (có giai đoạn lên tới 39,2% - 45%). Một trong những nguyên nhân căn bản được tác giả chỉ ra là sự thiếu độc lập của Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án tham nhũng.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích cơ sở lý luận và nền tảng pháp lý của yêu cầu tăng cường tính độc lập của Tòa án trong mối liên hệ với nhiệm vụ đấu tranh PCTN tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.
- Khảo sát thực trạng công tác PCTN và xét xử tội phạm tham nhũng, nhận diện toàn diện các nguyên nhân cản trở tính độc lập của Tòa án trên các phương diện tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành và các yếu tố phi thể thức.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao tính độc lập của Tòa án, phục vụ hiệu quả cho cuộc đấu tranh PCTN trong khuôn khổ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tính độc lập của Tòa án trong mối quan hệ biện chứng với hoạt động đấu tranh phòng, chống tham nhũng; các quy định pháp luật và thực tiễn tổ chức, hoạt động của hệ thống Tòa án tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào hệ thống Tòa án nhân dân và các cơ quan thực hiện quyền tư pháp tại Việt Nam trong khung thời gian từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến giai đoạn 2012 – 2013, trọng tâm là số liệu thực tế giai đoạn 2006 – 2012.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp các lý thuyết chính trị – pháp lý hiện đại và tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng chống tham ô, lãng phí:
- Khung lý thuyết kiểm soát quyền lực: Vận dụng học thuyết phân chia và kiểm soát quyền lực của Montesquieu (Tinh thần pháp luật), nhấn mạnh nguyên lý kiểm soát quyền lực để ngăn ngừa sự lạm quyền của nhánh hành pháp và bảo đảm tư pháp là cơ quan tài phán độc lập, vô tư.
- Mô hình toán học về tham nhũng:
- Công thức của Robert Klitgaard: $C = M + D - A$ (văn bản trích thuật là $C = M + D + A$, trong đó $C$: Tham nhũng, $M$: Độc quyền, $D$: Sự tự quyết, $A$: Trách nhiệm giải trình).
- Công thức của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP): $C = (M + D) \times (A + I + T)$ (bổ sung thêm biến số $I$: Sự liêm chính và $T$: Tính minh bạch).
- Khung pháp lý quốc tế và trong nước: Điều 11 Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC); các bản Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992 sửa đổi 2001 và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 2013); Luật Phòng, chống tham nhũng 2005 (sửa đổi 2007, 2012); Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi 2009); Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002; Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002; Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự 2004 (sửa đổi 2006, 2009); Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp tài liệu học thuật, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu các giai đoạn lập hiến và mô hình quốc tế), phương pháp thống kê và biểu đồ hóa số liệu thực tiễn từ các báo cáo chính thức.
- Nguồn dữ liệu: Báo cáo công tác PCTN nhiệm kỳ 2006 – 2010 của Chính phủ; Báo cáo tổng kết công tác năm 2012 của Tòa án nhân dân tối cao; Báo cáo khảo sát về chi phí không chính thức của Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Hỗ trợ cộng đồng (CECODES) phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và UNDP (5/2013); Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI) từ năm 2007 đến năm 2012.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tính độc lập của Tòa án trong đấu tranh phòng chống tham nhũng tại Việt Nam – Cơ sở lý luận và pháp lý
Chương 1 hệ thống hóa vị trí của Tòa án trong bộ máy nhà nước và làm rõ mối quan hệ giữa nguyên tắc độc lập xét xử với hiệu quả PCTN:
- Vị trí của Tòa án trong hệ thống các cơ quan thực hiện quyền tư pháp: Tác giả tiếp cận quyền tư pháp theo nghĩa tố tụng hình sự, xác định hệ thống các cơ quan thực hiện quyền tư pháp tại Việt Nam gồm: Tòa án nhân dân (trung tâm), Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra. Hoạt động thi hành án không được coi là hoạt động tư pháp thuần túy mà mang tính chất hành chính – tư pháp. Tòa án giữ vị trí trung tâm vì là cơ quan duy nhất nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết công khai về tội phạm và hình phạt trên cơ sở chứng cứ thẩm tra tại phiên tòa.
- Khái quát về tình hình tham nhũng và khung pháp lý: Trình bày sự phát triển các quy định pháp luật xử lý hành vi lạm quyền, nhũng nhiễu từ thời phong kiến (Quốc triều Hình luật thời Lê quy định tại các Điều 137, 138, 184, 304, 326; Hoàng Việt Luật Lệ thời Nguyễn) đến các văn bản thời kỳ hiện đại như Sắc lệnh số 223/SL (1946), Sắc lệnh số 64/SL (1945 thành lập các Tòa án đặc biệt), Quyết định số 240-HĐBT (1990), Luật PCTN 2005 quy định 12 nhóm hành vi tham nhũng tại Điều 3 và Mục A Chương XXI Bộ luật Hình sự 1999 với 7 tội danh về tham nhũng.
- Tổng kết số liệu thực tiễn và các vụ án điển hình:
- Giai đoạn 2007 – 2010: Viện kiểm sát nhân dân truy tố 1.342 vụ án/3.313 bị can; Tòa án nhân dân thụ lý, xét xử 1.189 vụ/2.775 bị can. Tội tham ô tài sản luôn chiếm tỷ lệ cao nhất (trên 50% số vụ và số bị can).
- Năm 2012: Tòa án các cấp xét xử sơ thẩm 67 vụ án tham nhũng lớn; tuyên phạt 155 bị cáo phạm tội tham nhũng được hưởng án treo trong tổng số 733 bị cáo phạm tội tham nhũng (tỷ lệ 21,15%, giảm so với mức 39,2% của năm 2011).
- Chỉ số CPI của Transparency International: Khóa luận lập bảng theo dõi vị trí của Việt Nam:
| Năm | Điểm số đánh giá | Thứ hạng quốc tế |
|---|---|---|
| 2007 | 2,6 / 10 | 123 / 179 |
| 2008 | 2,7 / 10 | 121 / 180 |
| 2009 | 2,7 / 10 | 120 / 180 |
| 2010 | 2,7 / 10 | 116 / 180 |
| 2011 | 2,9 / 10 | 112 / 182 |
| 2012 | 31 / 100 | 123 / 176 |
- Thực trạng tham nhũng vặt: Báo cáo khảo sát năm 2013 của CECODES/UNDP/MTTQ cho thấy chi phí bôi trơn trong lĩnh vực cấp sổ đỏ ước tính lên tới 125 tỷ đồng (khoảng 6,5 triệu USD) với 17% – 57% người dân được khảo sát phải chi trả tiền lót tay.
- Mối liên hệ giữa tính độc lập của Tòa án và nhiệm vụ PCTN: Tính độc lập của Tòa án là công cụ kiểm soát quyền lực hành pháp, ngăn chặn tình trạng dùng quyền lực chính trị để can thiệp vào hoạt động tư pháp, bảo đảm mọi phán quyết đều khách quan, đúng người, đúng tội và nâng cao tính răn đe, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật trong xã hội.
Chương 2: Nguyên nhân cản trở việc tăng cường tính độc lập của Tòa án trong đấu tranh phòng chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay
Chương 2 phân tích sâu sắc các rào cản làm suy giảm tính độc lập của Tòa án theo 3 nhóm nguyên nhân:
CÁC NGUYÊN NHÂN CẢN TRỞ
Nhóm Tổ chức Nhóm Cơ chế Nhóm Khác
- Vị trí Tòa án trong bộ máy - Chế độ bổ nhiệm/nhiệm kỳ - Thói quen "thỉnh thị án",
chưa độc lập thực chất. Thẩm phán 5 năm. "hiệp thương", "án tại hồ sơ".
- Tác động từ quyền kiểm sát - Ngân sách phụ thuộc cơ quan - Chưa rành mạch cơ chế Đảng
toàn diện của Viện kiểm sát. hành chính, lương thấp. lãnh đạo đối với phán quyết
- Thiếu cơ quan điều tra độc - Đào tạo thẩm phán chưa của Thẩm phán.
lập với nhánh hành pháp. chuyên sâu án tham nhũng.
- Tổ chức Tòa án gắn liền địa
giới hành chính lãnh thổ.
- Nhóm nguyên nhân về mặt tổ chức:
- Vị trí của Tòa án trong bộ máy nhà nước: Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 (sửa đổi 2001) không dành chương riêng định danh Tòa án là "Cơ quan tư pháp" như Hiến pháp 1946 mà chỉ xác định là cơ quan xét xử. Quyền lực nhà nước tập trung vào Quốc hội, trong khi tỷ lệ đại biểu chuyên trách thấp (Khóa XII chỉ đạt 25,55%, Khóa XIII đạt 33%), phần lớn đại biểu kiêm nhiệm chức vụ hành pháp. Nhánh hành pháp nắm giữ quyền lực quản lý thực tế rất lớn, dễ tạo sức ép lên quá trình tố tụng.
- Tác động từ cơ chế kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát: Viện kiểm sát vừa thực hiện quyền công tố (buộc tội) vừa thực hiện quyền kiểm sát hoạt động xét xử dẫn đến tình trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi", gây áp lực cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.
- Thiếu cơ quan điều tra tham nhũng độc lập: Hoạt động điều tra chủ yếu thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng (thuộc nhánh hành pháp – nơi tập trung nguy cơ tham nhũng cao nhất), dẫn đến nguy cơ thiếu khách quan, nể nang, bao che nội bộ. Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát chỉ có thẩm quyền hạn chế đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
- Tổ chức Tòa án theo địa giới hành chính: Tòa án cấp tỉnh, huyện bị ràng buộc về mặt tổ chức và quan hệ với cấp ủy, chính quyền địa phương, làm suy yếu khả năng xét xử độc lập đối với các vụ án liên quan đến quan chức sở tại. Tải trọng công việc phân bổ không đều (Thẩm phán quận đô thị có khối lượng công việc gấp 20 – 30 lần Thẩm phán miền núi).
- Nhóm nguyên nhân về mặt cơ chế:
- Chế độ nhiệm kỳ và bổ nhiệm Thẩm phán: Nhiệm kỳ 5 năm tạo tâm lý e dè, lo ngại va chạm quyền lực khi xét xử để đảm bảo điều kiện tái bổ nhiệm.
- Cơ chế tài chính, ngân sách và đãi ngộ: Ngân sách của Tòa án địa phương vẫn chịu sự chi phối từ cơ quan tài chính cùng cấp; chế độ tiền lương và phụ cấp trách nhiệm chưa tương xứng với rủi ro và áp lực nghề nghiệp.
- Hạn chế trong đào tạo: Thiếu đội ngũ Thẩm phán chuyên biệt có trình độ chuyên sâu về kinh tế, tài chính, chứng khoán, xây dựng để giải quyết các đại án tham nhũng phức tạp.
- Nhóm nguyên nhân khác:
- Tồn tại các hiện tượng tiêu cực trong thực tiễn xét xử như "thỉnh thị án", "hiệp thương án" giữa các cơ quan tố tụng, và tình trạng "án tại hồ sơ" triệt tiêu tính công khai, tranh tụng tại phiên tòa.
- Cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Tòa án chưa được thể chế hóa rành mạch, đôi khi bị lạm dụng thành việc chỉ đạo kết quả xét xử cụ thể của cấp ủy địa phương.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường tính độc lập của Tòa án trong hoạt động đấu tranh phòng chống tham nhũng hiện nay
Trên cơ sở nhận diện các điểm nghẽn thể chế, tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Nhóm giải pháp về tổ chức:
- Hiến định vị trí quyền tư pháp: Ghi nhận Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013 để nâng cao vị thế độc lập trong tương quan với nhánh lập pháp và hành pháp.
- Thành lập Tòa án theo thẩm quyền xét xử (mô hình Tòa án khu vực): Thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW, tách tổ chức Tòa án cấp sơ thẩm khỏi địa giới hành chính huyện/quận nhằm cắt đứt sự can thiệp của chính quyền địa phương.
- Tổ chức Cơ quan điều tra tham nhũng độc lập: Tách lực lượng điều tra án tham nhũng ra khỏi sự chi phối trực tiếp của các bộ ngành hành pháp, tập hợp nhân lực chuyên môn cao để bảo đảm thu thập chứng cứ khách quan, toàn diện.
- Nhóm giải pháp về cơ chế:
- Cải cách chế độ bổ nhiệm Thẩm phán: Bãi bỏ nhiệm kỳ 5 năm, chuyển sang chế độ bổ nhiệm dài hạn hoặc bổ nhiệm suốt đời (khi đáp ứng chuẩn mực năng lực và đạo đức); thành lập Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán quốc gia độc lập.
- Độc lập về ngân sách và chế độ đãi ngộ: Ngân sách ngành Tòa án do Quốc hội phân bổ trực tiếp một khoản trọn gói riêng, không thông qua thẩm định của Bộ Tài chính; tăng lương và phụ cấp đặc thù để đảm bảo tính liêm chính.
- Chuyên môn hóa và kiểm soát đạo đức: Thành lập Tòa chuyên trách hoặc đào tạo Thẩm phán chuyên biệt xét xử tội phạm kinh tế - tham nhũng; ban hành Bộ quy tắc đạo đức Thẩm phán và cơ chế công khai trách nhiệm giải trình.
- Nhóm giải pháp bổ trợ:
- Tăng cường tính tranh tụng và phát triển án lệ: Đưa phiên tòa thành trung tâm của hoạt động tố tụng, xóa bỏ triệt để tình trạng "thỉnh thị án" và "án tại hồ sơ", bảo đảm phán quyết chỉ căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai.
- Thể chế hóa phương thức lãnh đạo của Đảng: Quy định rõ ranh giới lãnh đạo về đường lối, chủ trương, quan điểm lập pháp với việc cấm can thiệp vào việc định tội danh và lượng hình của Hội đồng xét xử.
- Bảo đảm quyền tự do thông tin và giám sát của xã hội: Xây dựng cơ chế tiếp nhận tố giác tham nhũng an toàn, phát huy vai trò điều tra của báo chí và sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc cùng quần chúng nhân dân.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và luận giải các kết quả nghiên cứu cụ thể:
- Dữ liệu thực chứng về thực trạng xử lý án tham nhũng: Khóa luận phản ánh bức tranh xét xử giai đoạn 2006 – 2012 qua các con số thống kê chính thức của TANDTC và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tỷ lệ cho hưởng án treo đối với tội phạm tham nhũng tuy có chuyển biến tích cực (từ 39,2% năm 2011 xuống 21,15% năm 2012) nhưng vẫn còn ở mức cao. Tại một số địa phương, sự chuyển biến diễn ra rõ nét sau chỉ đạo chấn chỉnh (Cà Mau giảm từ 81% năm 2011 xuống 13,7% năm 2012; Nghệ An giảm từ 59% xuống 21,4%; Bình Phước giảm từ 27,2% xuống 9%).
- Hệ thống hóa nguyên nhân mang tính bản chất: Tác giả chỉ ra rằng sự thiếu độc lập của Tòa án bắt nguồn sâu xa từ mô hình tổ chức quyền lực tập trung, sự phụ thuộc vào ranh giới hành chính lãnh thổ và cơ chế bổ nhiệm Thẩm phán theo nhiệm kỳ ngắn hạn.
- Đóng góp mới của đề tài: Đây là một trong những công trình nghiên cứu cấp cử nhân luật tại thời điểm năm 2013 đặt vấn đề trực diện và kết nối hai lĩnh vực thường được nghiên cứu riêng rẽ: học thuyết về tính độc lập của tư pháp và chiến lược phòng chống tham nhũng. Đề tài cung cấp luận cứ ủng hộ việc sửa đổi Hiến pháp năm 2013 theo hướng ghi nhận Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp và thúc đẩy thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực theo Nghị quyết 49-NQ/TW.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Đề tài được hoàn thành vào đầu năm 2013, trước thời điểm Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Do đó, các phân tích về mặt lập hiến chủ yếu dựa trên các dự thảo sửa đổi Hiến pháp và khung pháp luật của Hiến pháp 1992. Nguồn số liệu thực tế về các vụ án tham nhũng chỉ mới bao quát đến hết năm 2012.
- Hướng nghiên cứu mở rộng:
- Đánh giá tác động thực tế của quy định "Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp" trong Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức TAND năm 2014 đối với việc xét xử án tham nhũng.
- Nghiên cứu mô hình tổ chức chi tiết và cơ chế phối hợp của một Cơ quan điều tra tham nhũng chuyên trách, độc lập trong điều kiện chính trị – pháp lý cụ thể tại Việt Nam.
- Đánh giá hiệu quả của cơ chế tranh tụng tại phiên tòa hình sự và việc áp dụng án lệ trong xét xử các tội phạm về chức vụ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật: Đặc biệt thuộc các chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Hình sự & Tố tụng hình sự, Lý luận Nhà nước và Pháp luật khi nghiên cứu về cải cách tư pháp và kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Người làm nghiên cứu lập pháp và cải cách thể chế: Tham khảo các luận điểm phân tích lịch sử pháp lý (các văn bản từ thời Lê, Nguyễn, Sắc lệnh thời kỳ 1945 – 1946) và các dữ liệu so sánh về mô hình tổ chức quyền tư pháp.
- Nội dung đáng chú ý nhất: Phần phân tích thực trạng mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong tố tụng hình sự (Chương 2), cùng các giải pháp về bãi bỏ chế độ nhiệm kỳ Thẩm phán và thành lập Tòa án khu vực (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả xác định hệ thống các cơ quan thực hiện quyền tư pháp tại Việt Nam gồm những cơ quan nào và vì sao không bao gồm cơ quan thi hành án?
Tác giả tiếp cận theo góc độ tố tụng tư pháp hình sự và xác định hệ thống gồm 3 cơ quan: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra. Hoạt động thi hành án bị loại trừ vì mang bản chất hành chính – tư pháp, diễn ra ở giai đoạn sau xét xử và chỉ nhằm thực thi phán quyết chứ không có chức năng xác định sự thật khách quan của vụ án.
2. Thực trạng tỷ lệ áp dụng án treo đối với tội phạm tham nhũng trong năm 2011 và 2012 biến động như thế nào theo số liệu của TANDTC?
Năm 2011, tỷ lệ bị cáo phạm tội tham nhũng được hưởng án treo chiếm 39,2%. Đến năm 2012, tỷ lệ này giảm xuống còn 21,15% (155/733 bị cáo). Một số địa phương giảm mạnh như Cà Mau (từ 81% xuống 13,7%), Nghệ An (từ 59% xuống 21,4%), Bình Phước (từ 27,2% xuống 9%).
3. Tại sao tác giả đánh giá chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát có thể ảnh hưởng đến tính độc lập của Tòa án?
Vì Viện kiểm sát đồng thời thực hiện hai chức năng: vừa là cơ quan công tố thực hiện quyền buộc tội, vừa là cơ quan giám sát tính hợp pháp trong hoạt động xét xử của Tòa án. Cơ chế này tạo ra tình trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi", khiến Thẩm phán chịu áp lực tâm lý phải thống nhất quan điểm với Viện kiểm sát, làm suy giảm tính độc lập của Hội đồng xét xử.
4. Khóa luận chỉ ra những rào cản chủ yếu nào từ chế độ Thẩm phán hiện hành?
Ba rào cản chính gồm: chế độ nhiệm kỳ 5 năm ngắn hạn khiến Thẩm phán lo ngại va chạm khi xét xử quan chức để được tái bổ nhiệm; chế độ tiền lương, phụ cấp chưa tương xứng với trách nhiệm và rủi ro nghề nghiệp; chương trình đào tạo còn thiếu tính chuyên sâu về các loại tội phạm kinh tế – chức vụ tinh vi.
5. Đề xuất trọng tâm nào được đưa ra để khắc phục sự phụ thuộc của Tòa án vào chính quyền địa phương?
Đề xuất trọng tâm là khẩn trương xóa bỏ mô hình Tòa án tổ chức theo đơn vị hành chính cấp huyện/tỉnh, chuyển sang thành lập Tòa án sơ thẩm theo khu vực (thẩm quyền xét xử không phụ thuộc vào địa giới hành chính lãnh thổ) và tách bạch ngân sách hoạt động của Tòa án do Quốc hội phân bổ trực tiếp.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Minh Đức đã phân tích một cách toàn diện và có hệ thống mối quan hệ biện chứng giữa tính độc lập của Tòa án và hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp lý luận kiểm soát quyền lực với số liệu thực chứng giai đoạn 2006 – 2012, công trình chỉ rõ các nguyên nhân thể chế làm suy giảm tính độc lập trong xét xử án tham nhũng. Hệ thống các giải pháp được đề xuất về tổ chức Tòa án khu vực, cải cách chế độ Thẩm phán và tăng cường tranh tụng mang giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam.