Tổ chức và hoạt động của HĐND phường - Luận văn ThS. Nguyễn Hồ Đăng Quang

Tìm hiểu sâu về cơ cấu tổ chức, vai trò, chức năng và các hoạt động thực tiễn của Hội đồng nhân dân phường trong quản lý nhà nước tại địa phương.

Chuyên ngành

Luật Hành Chính Và Hiến Pháp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2020

72
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan cơ sở lý luận về tổ chức HĐND phường hiện nay

Nền tảng cho việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân phường bắt nguồn từ các cơ sở lý luận về chính quyền địa phương và các quy định pháp luật hiện hành. Theo Hiến pháp 2013, Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân. Vị trí này được cụ thể hóa trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (Luật TCCQĐP), xác định HĐND phường do cử tri địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên. Về mặt chức năng, HĐND phường thực hiện hai nhiệm vụ cốt lõi: quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật. Chức năng của Hội đồng nhân dân trong việc quyết định bao gồm các lĩnh vực như ngân sách, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Đồng thời, hoạt động giám sát của HĐND hướng tới Thường trực HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND) cùng cấp và các cơ quan, tổ chức khác trên địa bàn. Một luận văn thạc sĩ luật học về chủ đề này phải phân tích sâu sắc cấu trúc, mối quan hệ công tác và cơ chế vận hành của HĐND phường trong hệ thống chính trị cơ sở để làm rõ vai trò thực tiễn của cơ quan dân cử này. Việc tìm hiểu kỹ lưỡng các quy định pháp lý là bước đầu tiên để đánh giá đúng thực trạng hoạt động HĐND cấp phường và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả.

1.1. Phân tích vị trí pháp lý và vai trò của HĐND phường

Vị trí pháp lý của HĐND phường được xác lập tại Điều 113 Hiến pháp 2013, khẳng định đây là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Điều này có nghĩa HĐND phường không chỉ là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của người dân mà còn nhân danh nhà nước để thực thi quyền lực tại cơ sở. Vai trò này thể hiện qua hai chức năng chính. Thứ nhất, quyết định các chủ trương, biện pháp quan trọng để phát triển địa phương, bao gồm việc thông qua nghị quyết của hội đồng nhân dân về dự toán ngân sách, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Thứ hai, thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước cùng cấp, đảm bảo tính pháp chế và minh bạch. Đây là cơ sở chính trị quan trọng của hệ thống cơ quan nhà nước tại phường, là cầu nối trực tiếp giữa chính quyền và nhân dân.

1.2. Cơ cấu tổ chức hội đồng nhân dân phường theo luật định

Theo Luật TCCQĐP, cơ cấu tổ chức Hội đồng nhân dân phường bao gồm các thành phần chính. Đầu tiên là các đại biểu hội đồng nhân dân do cử tri phường bầu ra, với số lượng từ 25 đến 35 người tùy thuộc vào quy mô dân số. Thứ hai là Thường trực HĐND phường, gồm Chủ tịch và một Phó Chủ tịch, là cơ quan hoạt động thường xuyên, điều hòa phối hợp hoạt động của HĐND. Thứ ba là các ban của HĐND phường, bao gồm Ban Pháp chế và Ban Kinh tế - Xã hội. Các ban này có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình HĐND và thực hiện giám sát chuyên ngành. Điểm đặc thù là hầu hết thành viên các ban và đại biểu đều hoạt động kiêm nhiệm, đặt ra nhiều thách thức về thời gian và chuyên môn.

1.3. Mối quan hệ công tác giữa HĐND và các tổ chức khác

HĐND phường hoạt động trong một hệ thống chính trị chặt chẽ. Mối quan hệ giữa HĐND và UBND phường là mối quan hệ giữa cơ quan quyền lực và cơ quan chấp hành; HĐND bầu ra UBND và giám sát hoạt động của UBND. Đối với Đảng ủy phường, HĐND chịu sự lãnh đạo toàn diện, thể hiện qua việc Đảng ủy định hướng về nhân sự và các chủ trương lớn. Với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường, HĐND phối hợp trong công tác hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, tổ chức hoạt động tiếp xúc cử tri, và giám sát, phản biện xã hội. Vai trò của Mặt trận tổ quốc là cầu nối quan trọng, đảm bảo các quyết sách của HĐND phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.

II. Phân tích thực trạng hoạt động của HĐND phường và thách thức

Mặc dù khung pháp lý về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân phường tương đối hoàn chỉnh, thực trạng hoạt động HĐND cấp phường vẫn bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức. Một trong những vấn đề nổi cộm là chất lượng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân. Tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách rất thấp, hầu hết là kiêm nhiệm, dẫn đến việc không có đủ thời gian và tâm huyết cho công tác dân cử. Nhiều đại biểu là cán bộ, công chức phường, vừa là chủ thể giám sát vừa là đối tượng bị giám sát, tạo ra sự chồng chéo và thiếu khách quan. Hơn nữa, hoạt động giám sát của HĐND thường mang tính hình thức. Các kết luận, kiến nghị sau giám sát chưa có tính pháp lý bắt buộc, khiến việc khắc phục sai phạm của các cơ quan chịu sự giám sát không triệt để. Quyền quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương đôi khi chỉ là hợp thức hóa các chủ trương đã được cấp trên hoặc UBND chuẩn bị sẵn. Những hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm cơ chế tổ chức, năng lực đại biểu, và sự phụ thuộc về ngân sách. Một luận văn thạc sĩ luật hiến pháp cần đi sâu phân tích những "điểm nghẽn" này để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật mang tính thực tiễn.

2.1. Hạn chế về chất lượng và cơ cấu đại biểu HĐND phường

Thực trạng cho thấy một thách thức lớn là chất lượng và cơ cấu của đội ngũ đại biểu hội đồng nhân dân. Theo nghiên cứu tại TP.HCM, tỷ lệ đại biểu chuyên trách chỉ chiếm khoảng 3-6%. Đa số đại biểu kiêm nhiệm nhiều công việc chuyên môn khác, đặc biệt là các chức danh trong bộ máy chính quyền, dẫn đến xung đột lợi ích tiềm tàng khi thực hiện chức năng giám sát. Luật TCCQĐP quy định tiêu chuẩn đại biểu còn chung chung, chưa yêu cầu cụ thể về trình độ chuyên môn pháp luật hay quản lý, khiến nhiều đại biểu gặp khó khăn khi thẩm tra các văn bản phức tạp về ngân sách, quy hoạch. Việc thiếu một cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động và chế tài rõ ràng cũng làm giảm động lực cống hiến của đại biểu.

2.2. Những bất cập trong hoạt động giám sát của HĐND phường

Đây là lĩnh vực bộc lộ nhiều yếu kém nhất. Hoạt động giám sát của HĐND phường thường diễn ra nhưng hiệu quả không cao. Nguyên nhân chính là sự phụ thuộc của HĐND vào UBND về mặt ngân sách và thông tin, làm giảm tính độc lập. Hơn nữa, các kết luận giám sát của Thường trực HĐND phường hay các Ban không có giá trị pháp lý bắt buộc như nghị quyết của hội đồng nhân dân. Điều này dẫn đến tình trạng các cơ quan chịu giám sát có thể không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các kiến nghị. Tâm lý "dĩ hòa vi quý" cũng là một rào cản, khiến các cuộc chất vấn tại kỳ họp thiếu đi sự thẳng thắn, chưa làm rõ được trách nhiệm cá nhân.

2.3. Tính hình thức trong việc quyết định các vấn đề tại địa phương

Quyền quyết định các vấn đề quan trọng của HĐND phường đôi khi chỉ mang tính hình thức. Trong công tác nhân sự, HĐND thường chỉ bỏ phiếu thông qua danh sách nhân sự đã được cấp ủy đảng phê duyệt, làm hạn chế quyền lựa chọn thực sự. Đối với việc quyết định ngân sách hay các dự án đầu tư, do thiếu bộ máy tham mưu chuyên nghiệp và hạn chế về chuyên môn, các đại biểu khó có thể phản biện sâu sắc các tờ trình do UBND – cơ quan có bộ máy chuyên môn vững vàng – xây dựng. Điều này dẫn đến các kỳ họp hội đồng nhân dân chủ yếu là để hợp thức hóa các quyết định đã được chuẩn bị trước, chưa phát huy được trí tuệ tập thể.

III. Phương pháp tối ưu cơ cấu tổ chức HĐND phường hiệu quả

Để khắc phục những hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân phường, cần áp dụng đồng bộ các phương pháp tối ưu hóa cơ cấu tổ chức. Trọng tâm là nâng cao chất lượng con người và hoàn thiện mô hình hoạt động. Một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả hàng đầu là tăng tỷ lệ và chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách. Đại biểu chuyên trách sẽ có đủ thời gian, điều kiện để nghiên cứu sâu vấn đề, theo đuổi các kiến nghị giám sát và giữ liên hệ mật thiết với cử tri. Bên cạnh đó, cần tiêu chuẩn hóa trình độ của đại biểu, đặc biệt là các thành viên của các ban của HĐND phường, yêu cầu phải có kiến thức chuyên môn phù hợp với lĩnh vực phụ trách. Cơ cấu của Thường trực HĐND phường cũng cần được củng cố. Thay vì chỉ có 2 thành viên, có thể nghiên cứu bổ sung Trưởng ban của HĐND vào thành phần Thường trực để tăng cường khả năng điều phối. Một đề xuất đột phá được nêu trong luận văn thạc sĩ luật học là xây dựng mô hình tổ đại biểu tại khu phố, giúp hoạt động của đại biểu có sự phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau, thay vì hoạt động đơn lẻ như hiện nay.

3.1. Nâng cao chất lượng và tỷ lệ đại biểu HĐND chuyên trách

Giải pháp then chốt là sửa đổi quy định pháp luật để tăng hợp lý số lượng đại biểu hội đồng nhân dân phường hoạt động chuyên trách. Đại biểu chuyên trách sẽ là nòng cốt trong các hoạt động giám sát, thẩm tra chuyên sâu. Đồng thời, cần xây dựng tiêu chuẩn cụ thể hơn cho ứng cử viên, không chỉ dựa vào uy tín mà còn phải xét đến trình độ học vấn, am hiểu pháp luật và năng lực thực tiễn. Cần có cơ chế bồi dưỡng, tập huấn định kỳ về kỹ năng giám sát, chất vấn, tiếp xúc cử tri cho đại biểu, giúp họ tự tin và thực hiện tốt hơn vai trò của người đại diện cho nhân dân.

3.2. Cải thiện cơ cấu Thường trực và các ban của HĐND phường

Cần kiện toàn cơ cấu tổ chức Hội đồng nhân dân phường, đặc biệt là Thường trực HĐND phường và các Ban. Có thể nghiên cứu mô hình Thường trực HĐND phường gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Trưởng ban như đề xuất trong dự thảo sửa đổi Luật TCCQĐP. Điều này giúp tăng cường sự phối hợp và nâng cao vai trò của các Ban. Đối với các ban của HĐND phường, cần có quy định rõ ràng về tiêu chuẩn thành viên, ưu tiên những đại biểu có chuyên môn về pháp luật cho Ban Pháp chế và kinh tế, tài chính cho Ban Kinh tế - Xã hội. Quy định Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban hoạt động chuyên trách cũng là một phương án cần cân nhắc.

3.3. Đề xuất mô hình tổ đại biểu HĐND phường tại khu phố

Việc không tổ chức tổ đại biểu ở cấp phường là một bất cập lớn. Hoạt động đơn lẻ khiến đại biểu gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin và thực hiện giám sát. Vì vậy, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nên bao gồm việc thành lập các tổ đại biểu HĐND phường theo từng khu phố. Mô hình này giúp các đại biểu trong cùng một địa bàn phối hợp chặt chẽ, phân công nhiệm vụ trong hoạt động tiếp xúc cử tri và giám sát, huy động được sức mạnh tập thể. Tổ đại biểu sẽ là nơi sinh hoạt, trao đổi kinh nghiệm, giúp các đại biểu mới nhanh chóng nắm bắt công việc và nâng cao hiệu quả hoạt động chung.

IV. Hướng dẫn nâng cao hiệu quả giám sát và hoạt động tiếp dân

Bên cạnh việc cải tổ cơ cấu, nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân phường đòi hỏi phải đổi mới phương thức làm việc, đặc biệt là trong hai lĩnh vực cốt lõi: giám sát và tiếp xúc cử tri. Để hoạt động giám sát của HĐND thực sự có chiều sâu, cần xây dựng quy trình giám sát khoa học, từ khâu lựa chọn nội dung, xây dựng kế hoạch đến theo dõi, đôn đốc thực hiện kiến nghị. Cần tăng cường giám sát chuyên đề vào các vấn đề dân sinh bức xúc như quản lý đất đai, xây dựng, môi trường. Quan trọng hơn, cần có chế tài cụ thể để đảm bảo các kết luận, kiến nghị sau giám sát phải được các cơ quan liên quan thực hiện nghiêm túc. Đối với hoạt động tiếp xúc cử tri, không nên chỉ giới hạn trong các kỳ họp định kỳ. Cần đa dạng hóa hình thức gặp gỡ, tiếp xúc theo chuyên đề, theo giới, hoặc tại nơi cư trú để lắng nghe được nhiều hơn ý kiến của người dân. Nâng cao tính thực chất khi ban hành nghị quyết của hội đồng nhân dân cũng là một yêu cầu cấp thiết, đảm bảo mỗi quyết sách đều dựa trên cơ sở phân tích thấu đáo và phản ánh đúng thực tiễn.

4.1. Tăng cường chất lượng và tính pháp lý của hoạt động giám sát

Để nâng cao chất lượng giám sát, chương trình giám sát hàng năm của HĐND phường cần tập trung vào các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực. Khi tiến hành giám sát, cần mời các chuyên gia, đại diện Mặt trận Tổ quốc và người dân tham gia để tăng tính khách quan. Điểm mấu chốt là phải nâng cao giá trị pháp lý của các kết luận, kiến nghị giám sát. Cần quy định rõ trong luật rằng, cơ quan chịu sự giám sát có trách nhiệm bắt buộc phải giải trình và thực hiện các kiến nghị. HĐND cần thực hiện tái giám sát thường xuyên để theo dõi việc khắc phục các hạn chế đã chỉ ra.

4.2. Đổi mới phương thức hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu

Hoạt động tiếp xúc cử tri cần được đổi mới theo hướng chủ động và đa dạng. Thay vì chờ đến kỳ họp, đại biểu cần thường xuyên xuống địa bàn, tham gia sinh hoạt tổ dân phố để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân. Cần ứng dụng công nghệ thông tin như tạo các nhóm Zalo, trang thông tin điện tử để cử tri có thể dễ dàng phản ánh ý kiến. Nội dung các buổi tiếp xúc cần được chuẩn bị kỹ lưỡng, không chỉ lắng nghe mà còn phải thông tin, giải thích rõ các chủ trương, chính sách cho cử tri, tạo sự đồng thuận xã hội.

4.3. Đảm bảo tính thực chất khi ban hành nghị quyết của HĐND

Để mỗi nghị quyết của hội đồng nhân dân phường ban hành có tính khả thi cao, quy trình thẩm tra dự thảo phải được thực hiện nghiêm túc. Các ban của HĐND phường phải có báo cáo thẩm tra độc lập, chỉ rõ những điểm hợp lý và bất hợp lý của dự thảo. Tại kỳ họp hội đồng nhân dân, cần dành đủ thời gian cho việc thảo luận, tranh luận, đặc biệt là hoạt động chất vấn để làm rõ mọi khía cạnh của vấn đề. Việc biểu quyết thông qua nghị quyết phải dựa trên sự đồng thuận cao của các đại biểu sau khi đã có đầy đủ thông tin và phân tích đa chiều, tránh tình trạng biểu quyết theo hình thức.

V. Bài học thực tiễn từ tổ chức HĐND phường tại TP

Việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân phường từ thực tiễn TP.HCM mang lại nhiều bài học quý giá. Đây là địa bàn đô thị đặc thù với mật độ dân số cao, các vấn đề xã hội phức tạp, đòi hỏi chính quyền cơ sở phải hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực trạng hoạt động HĐND cấp phường tại TP.HCM cho thấy rõ những ưu điểm và hạn chế của mô hình hiện tại. Ưu điểm là HĐND đã từng bước khẳng định vai trò là cơ quan đại diện, là kênh phản ánh ý kiến của người dân đến chính quyền. Tuy nhiên, hạn chế còn rất lớn, chủ yếu là tính hình thức trong hoạt động, năng lực đại biểu chưa đồng đều và cơ chế giám sát còn yếu. Nguyên nhân sâu xa đến từ các quy định pháp luật chưa theo kịp thực tiễn, từ sự kiêm nhiệm quá tải của đại biểu và sự phụ thuộc vào cơ quan hành chính. Những phát hiện này trong luận văn thạc sĩ luật học là cơ sở thực tiễn quan trọng để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương, không chỉ cho TP.HCM mà còn cho các đô thị khác trên cả nước.

5.1. Đánh giá ưu điểm và hạn chế từ mô hình thực tiễn TP.HCM

Từ thực tiễn TP.HCM, có thể thấy HĐND phường đã phát huy vai trò trong việc quyết định các vấn đề dân sinh như ngân sách cho các công trình nhỏ, sửa chữa hẻm, giám sát các hoạt động hành chính công tại phường. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất là sự bị động. HĐND thường chỉ hoạt động khi có kỳ họp hoặc có chỉ đạo từ cấp trên. Hoạt động giám sát của HĐND chưa thực sự chạm đến những vấn đề nóng mà người dân quan tâm. Chất lượng các kỳ họp chưa cao, thảo luận còn ít, chủ yếu là nghe báo cáo. Đây là những vấn đề mà đề cương luận văn thạc sĩ luật cần tập trung phân tích để tìm ra giải pháp.

5.2. Nguyên nhân dẫn đến hiệu quả hoạt động HĐND phường chưa cao

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên. Về khách quan, Luật Tổ chức chính quyền địa phương còn những khoảng trống pháp lý, chưa quy định rõ cơ chế đảm bảo hoạt động độc lập, hiệu quả cho HĐND cấp cơ sở. Về chủ quan, năng lực của một bộ phận đại biểu hội đồng nhân dân còn hạn chế, thiếu kỹ năng và kiến thức chuyên sâu. Sự nể nang, ngại va chạm trong mối quan hệ với UBND cùng cấp cũng là một rào cản lớn. Cuối cùng, nhận thức của cả cán bộ và người dân về vai trò, vị trí của HĐND phường chưa đầy đủ, dẫn đến sự thiếu quan tâm và tham gia tích cực.

VI. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động HĐND

Từ những phân tích lý luận và đánh giá thực tiễn, việc đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật là nhiệm vụ cốt lõi của một luận văn thạc sĩ luật hiến pháp về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân phường. Các kiến nghị cần tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và các văn bản liên quan. Cần quy định rõ hơn về tiêu chuẩn đại biểu, tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách và thành lập tổ đại biểu ở cấp phường. Cơ chế tài chính độc lập tương đối cho HĐND cũng là một yếu tố cần được xem xét để thoát khỏi sự phụ thuộc vào UBND. Ngoài ra, cần tăng cường giá trị pháp lý của các kết luận giám sát, quy định rõ chế tài xử lý đối với các cơ quan, cá nhân không thực hiện kiến nghị. Những giải pháp này không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND phường mà còn góp phần xây dựng một nền hành chính phục vụ, dân chủ và minh bạch hơn từ cấp cơ sở. Đây cũng là hướng nghiên cứu tiềm năng cho các công trình khoa học pháp lý trong tương lai.

6.1. Các kiến nghị sửa đổi Luật Tổ chức chính quyền địa phương

Cần tập trung vào một số nội dung chính. Một là, sửa đổi Điều 60 và 61 của Luật TCCQĐP theo hướng tăng số lượng thành viên chuyên trách của Thường trực HĐND phường và quy định bắt buộc thành lập tổ đại biểu. Hai là, bổ sung các quy định về tiêu chuẩn cụ thể đối với đại biểu, đặc biệt là thành viên các Ban chuyên trách. Ba là, xây dựng một chương riêng về cơ chế đảm bảo hoạt động cho HĐND, trong đó có quy định về ngân sách hoạt động độc lập và chế tài đối với hành vi cản trở hoạt động giám sát. Bốn là, làm rõ giá trị pháp lý bắt buộc của kết luận, kiến nghị sau giám sát.

6.2. Hướng nghiên cứu tương lai cho luận văn thạc sĩ luật học

Chủ đề về HĐND phường vẫn còn nhiều không gian để nghiên cứu sâu hơn. Các hướng nghiên cứu trong tương lai cho luận văn thạc sĩ luật học có thể bao gồm: so sánh mô hình tổ chức HĐND phường ở các đô thị đặc biệt; nghiên cứu cơ chế kiểm soát quyền lực giữa HĐND và UBND phường trong bối cảnh chính quyền đô thị; hoặc phân tích tác động của công nghệ thông tin đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát và tiếp xúc cử tri của HĐND phường. Những nghiên cứu này sẽ góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương ở Việt Nam.

04/10/2025
Tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân phường luận văn thạc sĩ luật học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu, 02 chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân phường. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân phường - từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh và kiến nghị hoàn thiện. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN PHƢỜNG 1.

Khái quát quá trình phát triển của Hội đồng nhân dân phƣờng Giai đoạn từ năm 1930 - 1945, thiết chế ch nh quyền địa phương được h nh thành ngay trong cuộc đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các Ủy ban giải phóng lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở các huyện, làng, thôn, bản là h nh thức tổ chức chính quyền tiền thân của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ và Sắc lệnh số 77/SL ngày 21/12/1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính thành phố, khu phố. Lần đầu tiên, mô hình Hội đồng nhân dân được tổ chức ở nước ta.

Ngày 09/11/1946, Quốc hội chính thức thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó kế thừa và khẳng định mô hình tổ chức chính quyền địa phương được ghi nhận tại hai Sắc lệnh số 63/SL và số 77/SL. Chương V Hiến pháp 1946 (từ Điều 57 - 62) quy định về Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành ch nh, theo đó Hội đồng nhân dân được thành lập ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã (các đơn vị hành chính cơ bản mang tính tự nhiên) do đầu phiếu phổ thông và trực tiếp bầu ra, không thành lập ở bộ và huyện (mang tính trung gian, nhân tạo). Trong giai đoạn này, đơn vị hành chính phường chưa xuất hiện. Bắt đầu từ Hiến pháp 1959, không còn sự phân biệt đơn vị hành chính cơ bản với đơn vị hành chính trung gian.

Điều 79 Hiến pháp 1959 quy định: “Ở mỗi đơn vị hành chính nói trên đều tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính”. Ngoài ra, để phân biệt quản lý và tổ chức bộ máy chính quyền ở nông thôn với quản lý và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị. Điều 1 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962 quy định “Các thành phố có thể chia thành khu phố ở nội thành và huyện ở ngoại thành”. Bên cạnh đó, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, Hiến pháp 1959 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962 xác định “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương”.

Còn Ủy ban hành chính được xác định là “cơ quan chấp hành 7 của Hội đồng nhân dân, đồng thời là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương”. Những quy định này của Hiến pháp 1959 đánh dấu xu hướng tổ chức chính quyền địa phương của nước ta bắt đầu chịu ảnh hưởng của mô hình tổ chức chính quyền Xô-viết địa phương, thể hiện rõ nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa, đề cao vị trí và vai trò của Hội đồng nhân dân trong toàn bộ hệ thống các cơ quan nhà nước. Hội đồng nhân dân không còn đơn thuần là các “cơ quan thay mặt cho nhân dân địa phương” mà nó còn là cơ quan quyền lực nhà nước, thay mặt cho nhà nước ở địa phương. Tuy vậy, trong giai đoạn này, đơn vị hành chính phường vẫn chưa được thiết lập.

Hiến pháp 1980 không phân biệt sự khác nhau giữa địa bàn nông thôn và đô thị nên đã phân chia các đơn vị hành chính của các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương là như nhau, đều có ba cấp là: Tỉnh (Thành phố trực thuộc Trung ương) - huyện (thành phố, quận, thị xã) - xã (phường, thị trấn). Từ lúc này, nước ta chính thức đưa ra khái niệm về “đơn vị hành chính tương đương” và lấy địa bàn nông thôn làm chuẩn. Tất cả các đơn vị hành chính đều là cấp tổ chức chính quyền hoàn chỉnh, có cả Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Như vậy, ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh lúc này đã có 03 cấp chính quyền hoàn chỉnh gồm: Thành phố - quận - phường và đều tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.

Ngày 30/6/1989, Quốc hội ra nghị quyết sửa đổi một số điều Hiến pháp 1980, quy định thành lập cơ quan Thường trực Hội đồng nhân dân từ cấp huyện và tương đương trở lên để tách chức năng thường trực Hội đồng nhân dân khỏi Ủy ban nhân dân. Điều 26 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1989 quy định Thường trực Hội đồng nhân dân gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thư ký Hội đồng nhân dân, do Hội đồng nhân dân bầu trong số các đại biểu Hội đồng nhân dân. Tuy nhiên, ở xã, phường, thị trấn vẫn chưa có Thường trực Hội đồng nhân dân. Hiến pháp 1980 đặc biệt đề cao vị trí, vai trò của các cơ quan dân cử, xác lập vị trí tối cao và toàn quyền của các cơ quan dân cử trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác cùng cấp.

Điều 6 Hiến pháp 1980 quy định “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp” và khẳng định “Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cơ sở chính trị của hệ thống cơ quan nhà nước”. Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã thể chế hóa đường lối đổi mới được khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986. Nhưng khác 8 với tổ chức bộ máy nhà nước ở Trung ương có sự đổi mới mạnh mẽ so với Hiến pháp 1980, mô hình tổ chức chính quyền địa phương về cơ bản không có sự thay đổi đáng kể. So với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1989, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994 quy định Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn cũng có Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và đến Luật năm 2003 quy định cho Hội đồng nhân dân cả ba cấp tỉnh - huyện - xã đều thành lập Thường trực Hội đồng nhân dân.

Ngày 15 tháng 11 năm 2008, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 26/2008/QH12 về thực hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường và Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 ngày 16 tháng 01 năm 2009 điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức Bộ máy của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân nhằm thể chế hóa Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X. Tuy nhiên, việc thực hiện thí điểm mới dừng ở việc chuyển nhiệm vụ, quyền hạn của hội đồng nhân dân huyện, quận, phường cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cùng cấp chứ chưa đổi mới đồng bộ về tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống chính trị huyện, quận, phường. Do đó, công tác thí điểm tuy mang lại nhiều kinh nghiệm quý giá và đạt được những kết quả khả quan nhưng không thể xác định được các đơn vị hành chính cơ bản, trung gian nên công tác quản lý Nhà nước nhìn chung không thực sự đổi mới. Kết luận số 89-KL/TW ngày 03 tháng 3 năm 2014 của Bộ Chính trị về tổng kết thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường đề xuất 03 phương án để Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, cho ý kiến trước khi Quốc hội thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 gồm: + Phương án 1.

Đơn vị hành chính quận, phường không tổ chức hội đồng nhân dân mà chỉ tổ chức Ủy ban nhân dân. Đơn vị hành chính phường không tổ chức hội đồng nhân dân mà chỉ tổ chức Ủy ban nhân dân. Tại các đơn vị hành chính, không phân biệt khu vực đô thị, nông thôn đều có hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. 9 Tuy nhiên, cả 03 phương án trên chưa xác định được đâu là đơn vị trung gian, đâu là đơn vị cơ bản nên nhìn chung không thể tiếp tục thực hiện thí điểm.

Vì vậy, hiện nay Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 đã tái lập mô hình Hội đồng nhân dân ở tất cả các cấp hành chính. Tổ chức của Hội đồng nhân dân phƣờng 1. Vị trí pháp lý của Hội đồng nhân dân phường Trong năm bản Hiến pháp của nước ta, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 đều ghi nhận một quan điểm rất quan trọng và cơ bản là ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Người dân sử dụng quyền lực của mình thông qua 02 hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Biểu hiện rõ nét nhất của hình thức dân chủ đại diện ở nước ta là việc tổ chức và hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp - cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước. Tính chất đại diện thể hiện rõ nét nhất ở sự hình thành của các cơ quan này bao gồm những người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước do cử tri bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín (cơ quan dân cử). Tính chất đại diện cao của các cơ quan dân cử còn thể hiện ở chỗ thành phần các đại biểu phải mang tính đại diện cho khối đại đoàn kết dân tộc, khối đại đoàn kết toàn dân. Điều 113 Hiến pháp 2013 quy định “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ