CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ SẢN XUẤT, TẠO VIỆC LÀM, TĂNG THU NHẬP 1. Chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập 1. Khái niệm và mục tiêu chính sách Chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập là một chính sách bộ phận, nằm trong chính sách về xóa đói giảm nghèo thuộc Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a/NQ-CP của Chính phủ. Chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập là tổng thể các quan điểm, nguyên tắc, hình thức, công cụ và giải pháp mà Nhà nước sử dụng nhằm thực hiện mục tiêu phát triển sản xuất, tăng thu nhập và tạo việc làm cho người dân.
Mục tiêu của chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập chính là những kết quả mà nhà nước mong muốn đạt được thông qua thực hiện các giải pháp chính sách. Do chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập là chính sách bộ phận nằm trong chính sách về xóa đói giảm nghèo nên cũng có các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể không tách rời với các mục tiêu của Chương trình 30a, được thể hiện với các mục tiêu sau đây: - Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hộ nghèo góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững. - Thúc đẩy kinh tế xã hội ở các huyện nghèo phát triển, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chủ thể và đối tượng của chính sách * Chủ thể: Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước.
Với đặc thù ở nước ta Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc đề ra cương lĩnh, chiến lược, chỉ thị, nghị quyết, các định hướng chính sách để Nhà nước ban hành. Như vậy chủ thể định hướng ban hành chính sách công ở nước ta là Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Chủ thể ban hành chính sách về xóa đói giảm nghèo nói chung và chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập nói riêng là Chính phủ. Chủ thể quyết định cụ 8 thể hóa các chính sách do Chính phủ quy định vào điều kiện thực tế của địa phương là HĐND và UBND các tỉnh.
Chủ thể tổ chức thực thi chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập là các Bộ ngành Trung ương và chính quyền các địa phương từ tỉnh đến xã. * Đối tượng của chính sách: là những tổ chức, cá nhân có liên quan đến thực thi chính sách và chịu ảnh hưởng của chính sách; cụ thể là các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương, các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cán bộ công chức viên chức thực thi chính sách và người dân. Trong đó đối tượng trực tiếp được thụ hưởng chính sách là người/hộ nghèo, người/hộ cận nghèo, người/hộ mới thoát nghèo, người/hộ dân tộc thiểu số và cộng đồng trên địa bàn thực hiện chương trình. Các chính sách bộ phận Chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập là một trong bốn chính sách, giải pháp đặc thù đối với các huyện nghèo được đề ra trong Nghị quyết 30a bao gồm: (1) Chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập; (2) Chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; (3) Chính sách cán bộ đối với các huyện nghèo và (4) Chính sách, cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng ở cả thôn, bản, xã và huyện.
Trong chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập có 8 chính sách bộ phận, cụ thể là: (1) Chính sách hỗ trợ thông qua khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất; (2) Chính sách hỗ trợ sản xuất; (3) Chính sách hỗ trợ lương thực đối với hộ nghèo ở thôn, bản vùng giáp biên giới trong thời gian chưa tự túc được lương thực; (4) Tăng cường, hỗ trợ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm cho các huyện nghèo; (5) Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại đầu tư sản xuất, chế biến, kinh doanh trên địa bàn huyện nghèo; (6) Xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, nhất là nông, lâm, thuỷ đặc sản của địa phương; thông tin thị trường cho nông dân: (7) Chính sách khuyến khích, tạo điều kiện và ưu đãi thu hút các tổ chức, nhà khoa học trực tiếp nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ ở địa bàn, nhất là việc tuyển chọn, chuyển giao giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất ở các huyện nghèo; (8) Chính sách xuất khẩu lao động. Trong đó, nội dung cơ bản của 3 chính sách bộ phận, thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn cụ thể như sau: 9 1. Chính sách hỗ trợ thông qua khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất a) Hộ gia đình nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng tự nhiên là rừng sản xuất có trữ lượng giàu, trung bình nhưng đóng cửa rừng) được hưởng tiền khoán chăm sóc, bảo vệ rừng 200.000 đồng/ha/năm; b) Hộ gia đình được giao rừng sản xuất (các loại rừng sau khi quy hoạch lại là rừng sản xuất, nhưng không thuộc loại rừng được khoán chăm sóc, bảo vệ nêu tại điểm a) và giao đất để trồng rừng sản xuất theo quy hoạch, được hưởng các chính sách sau: (i) Được hưởng toàn bộ sản phẩm trên diện tích rừng sản xuất được giao và trồng; (ii) Được hỗ trợ lần đầu giống cây lâm nghiệp theo quy trình trồng rừng sản xuất từ 02 - 05 triệu đồng/ha (mức hỗ trợ cụ thể căn cứ giá giống của từng địa phương do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định); c) Đối với hộ nghèo nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, được giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất, ngoài chính sách được hưởng theo quy định nêu trên còn được hỗ trợ: (i) Được trợ cấp 15 kg gạo/khẩu/tháng trong thời gian chưa tự túc được lương thực (thời gian trợ cấp gạo do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định, nhưng tối đa không quá 7 năm);(ii) Được hỗ trợ 05 triệu đồng/ha/hộ để tận dụng tạo đất sản xuất lương thực trong khu vực diện tích rừng nhận khoán chăm sóc, bảo vệ, rừng và đất được giao để trồng rừng sản xuất; (iii) Ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại ngân hàng thương mại nhà nước để trồng rừng sản xuất. Chính sách hỗ trợ sản xuất a) Bố trí kinh phí cho rà soát, xây dựng quy hoạch sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện cụ thể của từng huyện, xã, nhất là những nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thường xuyên bị thiên tai; b) Đối với vùng còn đất có khả năng khai hoang, phục hoá hoặc tạo ruộng bậc thang để sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ 10 triệu đồng/ha khai hoang; 05 triệu đồng/ha phục hoá; 10 triệu đồng/ha ruộng bậc thang; c) Hỗ trợ một lần toàn bộ tiền mua giống, phân bón cho việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao; ưu tiên hỗ trợ trồng lúa lai, ngô lai; 10 d) Ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại ngân hàng thương mại nhà nước để phát triển sản xuất nông nghiệp, đầu tư cơ sở chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản; đ) Đối với hộ nghèo, ngoài chính sách được hưởng theo quy định còn được hỗ trợ phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và phát triển ngành nghề với các mức cụ thể: (i) Được vay vốn tối đa 05 triệu đồng/hộ với lãi suất 0% (một lần) trong thời gian 2 năm để mua giống gia súc (trâu, bò, dê) hoặc giống gia cầm chăn nuôi tập trung hoặc giống thuỷ sản; hỗ trợ một lần: 01 triệu đồng/hộ để làm chuồng trại chăn nuôi hoặc tạo diện tích nuôi trồng thuỷ sản và 02 triệu đồng/ha mua giống để trồng cỏ nếu chăn nuôi gia súc; (ii) Hỗ trợ 100% tiền vắc xin tiêm phòng các dịch bệnh nguy hiểm đối với gia súc, gia cầm; (iii) Đối với hộ không có điều kiện chăn nuôi mà có nhu cầu phát triển ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp tạo thu nhập được vay vốn tối đa 05 triệu đồng/hộ, với lãi suất 0% (một lần).
Chính sách hỗ trợ khuyến nông, lâm, ngư nghiệp Tăng cường, hỗ trợ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm cho các huyện nghèo để xây dựng các trung tâm khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư thành những trung tâm chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ và dịch vụ thúc đẩy phát triển sản xuất trên địa bàn. Bố trí kinh phí khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cao gấp 2 lần so với mức bình quân chung các huyện khác; hỗ trợ 100% giống, vật tư cho xây dựng mô hình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; người dân tham gia đào tạo, huấn luyện được cấp tài liệu, hỗ trợ 100% tiền ăn ở, đi lại và 10.000 đồng/ngày/người; mỗi thôn, bản được bố trí ít nhất một suất trợ cấp khuyến nông (gồm cả khuyến nông, lâm, ngư) cơ sở. Tổ chức thực thi chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập của chính quyền cấp tỉnh 1. Khái niệm và vai trò của tổ chức thực thi chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập của chính quyền cấp tỉnh Tổ chức thực thi chính sách là quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, 11 nhằm hiện thực hóa những mục tiêu mà chính sách đã đề ra.
Nói cụ thể hơn, tổ chức thực thi chính sách là giai đoạn thực hiện những mục tiêu của chính sách trên thực tế. Đây chính là giai đoạn các kế hoạch chính sách biến thành sự can thiệp cụ thể của Nhà nước đối với các chủ thể kinh tế - xã hội. Giai đoạn này đòi hỏi Nhà nước phải huy động được các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực vào các hoạt động. Chịu trách nhiệm chính đối với quá trình tổ chức thực thi chính sách kinh tế - xã hội là bộ máy Hành chính Nhà nước (Giáo trình Chính sách xã hội – Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân).
Tổ chức thực thi chính sách có vị trí rất quan trọng nhằm hiện thực hóa các mục tiêu chính sách đã đề ra.