CHƯƠNG 1 PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẤT 1. Sự cần thiết phải thành lập Tổ chức phát triển quỹ đất Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá. Vai trò của nguồn tài nguyên này được thể hiện trên cả ba phương diện là kinh tế, xã hội và chính trị. Do vậy, việc sử dụng đất cần dựa trên quy hoạch, kế hoạch sử dụng hợp lý, khoa học, đảm bảo khai thác tiềm năng của đất đai có hiệu quả, triệt để, tiết kiệm đảm bảo công bằng, cân đối hài hoà lợi ích giữa các chủ thể sử dụng đất và điều quan trọng hơn là đảm bảo được quỹ đất cho các nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
Thế nhưng, thực trạng sử dụng đất của nước ta trong thời gian qua lại đáng báo động. Đất nông nghiệp ngày càng bị sa mạc hoá, giảm dần giá trị dinh dưỡng và bị lấn chiếm bởi đất phi nông nghiệp. Tình trạng không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích đất phi nông nghiệp vẫn còn phổ biến, nhất là đối với những khu đất công. Qua kiểm kê của bộ Tài nguyên và Môi trường theo Chỉ thị số 31/CT-TTg của Thủ 2 tướng Chính phủ cho thấy, rất nhiều tổ chức, đơn vị sử dụng đất công chưa hiệu quả, chưa đúng mục đích gây lãng phí lớn.
Diện tích để hoang hóa xấp xỉ 250.455 tổ chức quản lý. Diện tích đầu tư, xây dựng chậm (dự án treo) cũng lên tới 48. Đáng chú ý, vi phạm còn xuất hiện ở cả những tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn của Nhà nước. Theo giám sát của đoàn đại biểu Quốc hội TP Hồ Chí Minh, diện tích đất do 2 các Tập đoàn, Tổng công ty trên địa bàn quản lý có vi phạm lên tới 2,25 triệu m (chiếm 2 khoảng 10%).
Trong đó, diện tích đất bỏ trống, không sử dụng là 790.000m ; đất dự án 2 chưa sử dụng hoặc triển khai chậm là hơn 1 triệu m. Tương tự, kết quả thanh tra một loạt doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ba Vì (Hà Nội), cũng cho thấy vi phạm đối với đất công đang diễn ra trên diện rộng. Không chỉ để hoang hóa gây lãng phí, người ta còn ồ ạt mua đi bán lại cả đất khoán trong khi bộ máy quản lý tại cơ sở hầu như tê liệt, không 3 kiểm soát nổi tình hình. Đối lập hoàn toàn với tình trạng bỏ hoang phí đất ở một số nơi, để có đất phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước, Nhà nước đã phải thu hồi lại không ít diện tích đất đang sử dụng từ người dân.
Diện tích đất phải thu hồi này ngày càng nhiều. Bởi vì, ngoài việc thu hồi đất cho mục đích kinh tế, Nhà nước còn phải xây dựng các khu, điểm, nhà tái định cư cho người có đất bị thu hồi (quỹ đất, nhà ở dôi dư tại các địa phương trong cả nước hầu như không còn). 2 Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2007 về việc kiểm kê quỹ đất đang được quản lý, sử dụng của các Tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất 3 Theo ANĐT, Khó thu hồi đất công sử dụng sai mục đích, (23/6/2010) http://www.com/tin-tuc/d-kho-thu-hoi-dat-cong-su-dung-sai-muc-dich.htm 5 Với tình trạng vi phạm pháp luật đất đai như trên, cùng với nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước, Nhà nước buộc phải thu hồi đất. Tuy nhiên, để tiến hành công tác thu hồi đất lại gặp không ít khó khăn.
Bởi lẽ, không có một tổ chức chuyên trách, thống nhất trong cả nước thực hiện công việc này. Thêm vào đó, đối với các trường hợp thu hồi do vi phạm pháp luật đất đai, UBND các tỉnh chỉ thu hồi về rồi để trống vì không có một tổ chức nào để giao trực tiếp quản lý. Từ trước đến nay, mọi họat động liên quan đến đất đai đều do hệ thống cơ quan môi trường chủ quản, song công việc của các cơ quan này quá nhiều không thể “ôm” hết tất cả mọi việc. Mặt khác, đến trước thời điểm Tổ chức phát triển quỹ đất được thành lập, nước ta cũng không có một tổ chức nào chuyên thực hiện nhiệm vụ tạo quỹ đất phục vụ các nhu cầu kinh tế, xã hội của đất nước và quan trọng hơn là góp phần bình ổn thị trường bất động sản.
Vì vậy, việc thành lập một tổ chức chuyên thực hiện công tác thu hồi đất, quản lý quỹ đất thu hồi và chủ động tạo quỹ đất cho các nhu cầu của đất nước, ổn định thị trường bất động sản, thông qua đó góp phần quản lý và sử dụng đất có hiệu quả, tiết kiệm trở thành nhu cầu cấp thiết trong quá trình phát triển đất nước. Xuất phát từ tính cấp thiết đó, pháp luật về Tổ chức phát triển quỹ đất đã từng bước được ghi nhận và không ngừng được điều chỉnh phù hợp với tình hình của đất nước, thực sự tạo hành lang pháp lý cho Tổ chức này có thể hoạt động được trên thực tế. Sơ lược quy định của pháp luật về Tổ chức phát triển quỹ đất 1. Pháp luật về Tổ chức phát triển quỹ đất trước Luật đất đai năm 2003 Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần 6 (tháng 12/1986) đánh dấu sự đổi mới toàn diện sự quản lý về mọi mặt của đất nước, theo đó lĩnh vực đất đai cũng được ưu tiên chú trọng.
Dựa trên quan điểm đổi mới của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quy phạm pháp luật quy định chế độ quản lý và sử dụng đất. Ngày 29/12/1987 Quốc hội thông qua Luật đất đai đầu tiên. Luật này có hiệu lực thi hành ngày 08/01/1988. Nội dung chính của Luật đất đai năm 1987 là luật hoá chính sách Nhà nước giao đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, xây dựng nền móng đầu tiên của hệ thống địa chính Việt Nam.
Chính sách đất đai vẫn tiếp tục được vận hành trên nguyên tắc Nhà nước bao cấp về đất đai, đất đai không có giá, không được giao dịch trên thị trường, việc chuyển quyền sử dụng đất đều phải có quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước. Tiếp theo đó, Quốc hội đã ban hành Luật đất đai mới vào ngày 14/7/1993 thay thế Luật đất đai 1988. Luật này chính thức có hiệu lực từ 15/10/1993. Khác với Luật đất 6 đai năm 1988, Luật đất đai năm 1993 ghi nhận đất đai có giá và giá đất do Nhà nước quy định, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp đồng thời quy định rõ hơn về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất.
Tuy nhiên, cả hai văn bản quy phạm pháp luật trên đều không có điều khoản nào ghi nhận về Tổ chức phát triển quỹ đất. Bước sang thế kỷ 21, tiến hành hội nhập quốc tế, Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài. Công cuộc này đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa vai trò quản lý Nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có đất đai. Luật đất đai tiếp tục được sửa đổi, bổ sung qua các năm 1998, 2001.
Tuy nhiên, pháp luật vẫn không có bất cứ điều khoản nào quy định về Tổ chức phát triển quỹ đất. Tuy vậy, trong pháp luật đất đai, các trường hợp thu hồi đất đã được ghi nhận. Và để thực hiện nhiệm vụ này, trên thực tế, tại các địa phương đã tồn tại một tổ chức có chức năng thực hiện nhiệm vụ đền bù, giải phóng mặt bằng - tương tự với nhiệm vụ mà Tổ chức phát triển quỹ đất đang thực hiện theo pháp luật hiện hành. Đó là Hội đồng đền bù thiệt hại giải phóng mặt bằng (GPMB) do các địa phương thành lập.
Theo quy định tại điều 32 nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (sau đây gọi tắt là nghị định 22/1998/NĐ-CP), căn cứ vào quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; căn cứ vào quy mô, đặc điểm và tính chất của từng dự án, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo thành lập Hội đồng đền bù thiệt hại GPMB ở cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Trong trường hợp cần thiết, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Hội đồng đền bù thiệt hại GPMB cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hội đồng đền bù thiệt hại GPMB có trách nhiệm giúp UBND cùng cấp thẩm định phương án đền bù thiệt hại GPMB trình Hội đồng thẩm định cấp tỉnh thẩm định, sau đó trình Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt, tổ chức thực hiện đền bù GPMB theo phương án đã được phê duyệt. Thành viên hội đồng này gồm Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh làm Chủ tịch Hội đồng, và các thành viên khác gồm: trưởng phòng tài chính; chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn có đất bị thu hồi; đại diện mặt trận tổ quốc quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; chủ dự án (chủ sử dụng đất); đại diện những người được đền bù thiệt hại và một số thành viên khác (do chủ tịch UBND huyện quyết định cho phù hợp thực tế từng dự án).
Cũng theo quy định tại khoản 4, khoản 5 điều 32 nghị định 22/1998/NĐ-CP, Hội đồng đền bù GPMB chỉ được lập cho từng công trình (dự án) và hoạt động cho đến khi thực hiện xong việc đền bù thiệt hại GPMB cho công trình đó. Đối với các dự án quy 7 mô nhỏ, đơn giản, nếu chủ dự án có thể thoả thuận với người bị thu hồi đất về mức đền bù thiệt hại thì không nhất thiết phải thành lập Hội đồng đền bù thiệt hại GPMB. Những quy định này cho thấy, đến thời điểm trên vẫn không có một tổ chức chuyên trách nào thực hiện nhiệm vụ đền bù, GPMB. Bên cạnh đó, đa số thành viên Hội đồng đền bù thiệt hại GPMB đều là kiêm nhiệm.
Việc tham gia Hội đồng đối với họ chỉ là hoạt động phụ, không phải nhiệm vụ chính. Do vậy, các thành viên Hội đồng không thể chuyên tâm cho công tác này để có những quyết định phù hợp với nguyện vọng của người có đất bị thu hồi. Do đó, trong một thời gian dài, công tác đền bù, GPMB mất rất nhiều thời gian. Như vậy, trước Luật đất đai năm 2003, pháp luật không có điều khoản nào quy định về Tổ chức phát triển quỹ đất.