CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC CẢNH QUAN LÀNG TRONG VÀNH ĐAI XANH SÔNG NHUỆ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Tổng quan vành đai xanh đô thị 1. Tổng quan vành đai xanh trên thế giới Vành đai xanh là không gian xanh bao quanh đô thị hoặc một khu vực xây dựng lớn nhằm mục đích định hình cấu trúc và quản lý sự tăng trưởng đô thị hiệu quả.
Các mục tiêu cụ thể của vành đai xanh bao gồm: Hỗ trợ tái tạo đô thị thông qua việc khuyến khích phát triển hiệu quả; Bảo tồn tính đặc trưng truyền thống của khu vực nông thôn; ngăn chặn sự phát triển lan tỏa của đô thị; Bảo vệ diện tích đất nông, lâm nghiệp; Cải thiện khu vực rìa đô thị bị xuống cấp; Cung cấp cơ hội vui chơi giải trí cho người dân đô thị; Tăng cường liên kết giữa đô thị và vùng nông thôn mở. * Lịch sử hình thành Quy hoạch đô thị đã trải qua ba giai đoạn phát triển chính trong việc kết hợp không gian xanh vào cấu trúc đô thị. Giai đoạn đầu tiên bắt đầu từ sự xuất hiện của các thành phố cho đến cuối thế kỷ XIX, nơi cây xanh được sắp xếp theo hình học mà không tính đến môi trường xung quanh. Giai đoạn thứ hai từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX chứng kiến sự phát triển của các trung tâm công nghiệp và đô thị, với quy hoạch cây xanh dưới dạng vành đai xanh và dải xanh dọc sông, nhấn mạnh mối quan hệ giữa không gian công trình và không gian xanh, đồng thời tôn trọng vai trò của không gian xanh trong việc cách ly, thẩm mỹ và giải trí.
Giai đoạn ba, bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XX, đi sâu hơn vào việc tiếp cận tổng thể thiết kế đô thị, bao gồm cả khu vực lân cận. Các mô hình từ các giai đoạn này vẫn được ứng dụng và phát triển cho đến ngày nay, như những ví dụ điển hình tại các thành phố lớn ở Châu Âu như Moscow, Paris, London, nơi không gian xanh tự nhiên được tích hợp rộng rãi.1a thể hiện: (1) Thành phố lý tưởng của J.Perret (1601) với hệ thống cây xanh bao quanh tường ngoài của thành nhưng bên trong thành lại hoàn toàn thiếu hụt hẳn hệ thống xanh này; (2) Thành phố từ thiên nhiên của Morelli; (3) Sơ đồ hình mẫu các thành phố thực dân của G.Sarpa (1974) với việc hình thành vành đai công viên 9 công cộng và vành đai các trang trại, vườn hoa xung quanh thành phố nén; (4) Sơ đồ bố trí hệ thống cây xanh theo đường tròn của S.Fure (1820); (5) Sơ đồ hệ thống nước- cây xanh phấn bố theo dải đầu tiên của E. Sơ đồ lý thuyết hệ KGX của các thành Hình 1. Ý tưởng về VĐX phố trên thế giới từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX giữa thành phố trung tâm và [116] thành phố vệ tinh [116] Hình 1.
Lịch sử hình thành VĐX trên thế giới Ý tưởng về một không gian xanh bao quanh thành phố ra đời năm 1580, khi nữ hoàng Elizabeth I ra sắc lệnh cấm không cho xây dựng bất kỳ tòa nhà mới nào trong khu vực rộng 3 dặm (4,8 km) kể từ ngoại vi thành phố London. Tuy nhiên, chỉ đến năm 1902, khái niệm “VĐX” mới chính thức xuất hiện trong mô hình thành phố vườn của Ebenezer Howard (hình 1. Phong trào thành phố vườn là một phương pháp quy hoạch đô thị, trong đó các cộng đồng khép kín được bao quanh bởi "VĐX". Năm 1905, nơi đầu tiên áp dụng mô hình “Thành phố vườn” là Letchworth, cách Luân Đôn 35 dặm.
Trong sự phát triển của các thành phố khác tại nước Anh, cụm từ Vành đai xanh dần hình thành và phát triển, Năm 1935, vành đai xanh đầu tiên trên thế giới được thành lập tại London. Kể từ đó, vành đai xanh trở thành công cụ quy hoạch đô thị hữu ích, được áp dụng hàng loạt tại các nước châu Âu, châu Á và Bắc Mỹ do đã thành công trong việc ngăn chặn sự phát triển lan tỏa của đô thị [51]. 10 * Hình dạng Hệ thống không gian xanh bố trí thành dạng vành đai (hình vòng tròn hoặc nửa vòng tròn) 01 hoặc 02 lớp bao bọc quanh đô thị. Mô hình này thường gặp trong các quy hoạch vùng trên thế giới như vùng Ill-de-France, vùng Greater London… nhằm tạo ra vành đai hạn chế sự phát triển lan tỏa của các đô thị trong vùng, đồng thời bổ sung hệ thống công viên rừng, khu nghỉ dưỡng và vui chơi, đất thể thao liên quan đến yếu tố xanh (sân vận động, sân golf,…) cho đô thị trung tâm.
Ở mức độ đô thị, mô hình này thường được áp dụng cho các đô thị đang phát triển với mật độ dân số cao, thiếu hụt trầm trọng đất cây xanh trong khu vực trung tâm và bản thân đô thị đó cần hạn chế phát triển lan tỏa, hoặc áp dụng cho các đô thị cần phải được bảo vệ khỏi các yếu tố bất lợi về môi trường (khí thải độc hại) và về tự nhiên (gió, bão…). Mối kết nối giữa trung tâm đô thị với vành đai xanh bao quanh đô thị được thực hiện nhờ các tuyến cây trải dài liên tục, tuyến xanh dọc bờ sông, tuyến đường cây xanh đi bộ, tuyến xanh dọc các đại lộ. Các tuyến xanh này đã hình thành nên dải kết hợp các yếu tố mặt nước, cây xanh theo đường hướng tâm, phân chia đều các khu vực xây dựng đô thị theo hướng thuận tiện về hướng gió và hướng chảy của dòng sông, liên kết các khu vực trung tâm đô thị với VĐX đô thị [51]. Hình thức ban đầu của vành đai xanh là không gian xanh khép kín bao quanh thành phố.
Tuy nhiên, do điều kiện địa lý hay kinh tế xã hội, một số thành phố không thể hình thành một vòng tròn hoàn chỉnh, dẫn đến vành đai xanh có khá nhiều hình dạng khác nhau. Ví dụ như ở Hong Kong, hệ thống núi cao bao quanh thành phố khiến cho vành đai xanh không liên tục. Tại Adelaide (Úc) thì vành đai xanh chỉ bao quanh một phần của thành phố. Vành đai xanh cũng có thể là một tập hợp các công viên cấp vùng, vừa có nhiệm vụ kiếm soát sự phát triển của đô thị, vừa phục vụ nhu cầu giải trí (như vành đai xanh Berlin).
* Kích thước Vành đai xanh có kích thước khá đa dạng, phụ thuộc nhiều vào diện tích đô thị trung tâm. Vành đai xanh lớn nhất thế giới đang được ghi nhận là VĐX Ontario (Canada) có diện tích 7280 km2 gấp 11 lần diện tích thành phố Ontario. Vành đai 11 xanh London có diện tích 4978 km2, gấp 3.1 lần thành phố; diện tích vành đai xanh Seoul 1567 km2 gấp 2,6 lần thành phố. * Chức năng Chức năng chính của VĐX là hạn chế sự phát triển lan tỏa của đô thị, tuy nhiên VĐX cũng có một số chức năng đặc biệt khác.
Ví dụ, VĐX Tokyo được tạo ra như một hàng rào phòng không của thành phố trong suốt thế chiến thứ II. VĐX cũng được dùng như một bộ lọc giảm ô nhiễm không khí và tiếng ồn tạo ra bởi các khu công nghiệp (như ở Kolkata, Ấn Độ). VĐX cũng có chức năng cải thiện chất lượng cuộc sống đô thị thông qua việc cung cấp các tiện nghi về vui chơi giải trí, không khí trong lành, cảnh quan dễ chịu và thể thao du lịch (điển hình như hệ thống công viên cấp vùng trong vành đai xanh Berlin, Đức). Có rất nhiều dạng vành đai xanh đã được áp dụng tại các nước trên thế giới như Anh, Đức, Trung Quốc,.
VĐX tại Hamburg [51] VĐX tại London, Anh [51] VĐX tại Ontario, Canada [51] VĐX tại Bắc Kinh [51] Hình 1. Một số mô hình vành đai xanh được áp dụng trên thế giới 12 *Vị trí Vành đai xanh là không gian xanh nằm bên ngoài, bao bọc quanh khu vực đô thị trung tâm, hoặc hình thành dưới dạng các dải đan xen bên trong và bên ngoài đô thị trung tâm (hình 1. Quá trình hình thành và phát triển VĐX trên thế giới [51] Năm Nội dung chính 1898- Bắt đầu hình thành trong ý tưởng Thành phố vườn của E. 1929 1935 Ý tưởng VĐX được đưa vào quy hoạch vùng Luân Đôn, bù đắp sự thiếu hụt.
1950 VĐX được thực hiện tại Luân Đôn. 1960 Vành đai xanh trở thành ngôn ngữ quy hoạch quốc tế. Lý thuyết vành đai xanh là vùng xanh thuần, chủ yếu đất rừng và đất nông nghiệp. 1970 Có quan điểm: không chỉ thuần về môi trường, có tham gia phát triển kinh tế.
Có thêm các thành phần chức năng và có nhiều dạng cấu trúc: Mảng xanh, tuyến xanh, điểm xanh, nêm xanh,. Nay Biến thể khác biệt ở mỗi quốc gia và theo từng loại đô thị. Vành đai xanh tại Việt Nam Một số đô thị lớn tại Việt Nam được lựa chọn để phân tích không gian xanh, bao gồm các thành phố trực thuộc trung ương như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, và các thành phố thuộc tỉnh như Vĩnh Phúc và Bắc Ninh. Tương tự như các đô thị trên thế giới, các đô thị này cũng được phân tích trên cơ sở các vấn đề chính của cấu trúc quy hoạch hành lang xanh, vành đai xanh như một quá trình phát triển, vị trí và quy mô, mô hình cấu trúc, thể chế quản lý nhà nước và lợi ích mang lại cho đô thị [51].
Vành đai xanh tại thành phố Hà Nội Hà Nội từ năm 1954 đến nay đã 4 lần điều chỉnh địa giới (1961,1978, 1991, 2008) và 7 lần phê duyệt quy hoạch chung. Mỗi quy hoạch chung đều xác định hướng phát triển không gian cho một giai đoạn phát triển nhất định. 13 QHC duyệt năm 1961 QHC duyệt năm 1974 QHC năm 1981 Điều chỉnh năm 1976 QHC năm 2011 QHC năm 1992 QHC năm 1998 Hình 1. Quy hoạch chung Hà Nội qua các thời kỳ [50] Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô được phê duyệt theo quyết định 1259/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Hành lang xanh, vành đai xanh, nêm xanh đã được đưa vào cấu trúc thành phố Hà Nội. Theo đồ án quy hoạch, mạng lưới không gian xanh Thủ đô Hà Nội bao gồm: Hành lang xanh, vành đai xanh, nêm xanh, công viên chuyên đề, và các không gian xanh khác (trục xanh, cây xanh công viên đô thị và công viên vườn hoa, vùng trồng hoa, cây cảnh, cây xanh bảo tồn tự nhiên, công trình công cộng, không gian mặt nước. Không gian xanh HN [64] * Vành đai xanh sông Nhuệ: là vùng đệm cách biệt giữa khu nội đô mở rộng (từ vành đai 2 đến sông Nhuệ) với khu đô thị mở rộng nam sông Hồng (từ sông Nhuệ đến vành đai 4). VĐX đóng vai trò là không gian sinh thái “vùng đệm” cho khu vực nội đô Hà Nội [64].