CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XÂY TÌNH HÌNH XÂY DỰNG KÝ TÚC XÁ SINH VIÊN CÁC DỰNG NHÀ Ở SINH VIÊN CÁC TRƯỜGN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN THẾ GIỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO TÌNH HÌNH XÂY DỰNG KÝ TÚC XÁ SINH VIÊN CÁC ĐẲNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở VIỆT NAM VIỆT NAM. TÌNH HÌNH XÂY DỰNG KÝ TÚC XÁ SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TẠI HÀ NỘI NHỮNG VÂN ĐỀ TỒN TẠI CẦN NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU- TỰ NHIÊN CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KÝ TÚC XÁ SINH VIÊN CÁC ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN TP. HÀ NỘI ĐẾN PHẦN NỘI DUNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO NĂM 2030 TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050. ĐẲNG TẠI HÀ NỘI ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ QH HỆ THỐNG CÁC TRƯỜG ĐH, CĐ TẠI HÀ NỘI NHU CẦU NHÀ Ở CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐH, CĐ TẠI HÀ NỘI.
ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI- VĂN HÓA- LỖI SỐNG CỦA SV ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU CHẤT LƯỢNG ĐỐI VỚI KÝ TÚC XÁ SINH VIÊN. MỐI QUAN HỆ GIỮA KTX SINH VIÊN VÀ ĐÔ THỊ CƠ SỞ PHÁP LÝ CHƯƠNG 3: NGUYÊN TẮC MỘT SỐ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH KHÔNG GIAN KÝ TÚC XÁ GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TẠI HÀ NỘI QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC KÝ TÚC XÁ SINH VIÊN VÍ DỤ NGHIÊN CỨU KẾT LUẬN KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 5 CHƢƠN I TỔN QUAN TÌNH HÌNH XÂY DỰN KTX SINH VIÊN C C TRƢỜN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲN TRÊN THẾ IỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1. Một số khái niệm - Nhà ở xã hội: + Nhà ở xã hội: là nhà ở được đầu tư xây dựng có sự hỗ trợ, ưu đãi của nhà nước để cho các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 14 của nghị định 188/2013/NĐ-CP mua, thuê hoặc thuê mua. [6] Nhà ở xã hội được dành để giải quyết nhu cầu về chỗ ở cho các đối tượng sau: a.
Người có công với cách mạng quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách Mạng. Cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng và đoàn thể hưởng lương từ ngân sách nhà Nước. Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân hưởng lương từ ngân sách nhà nước; người làm công tác cơ yêu không phải là quân nhân được hưởng các chế độ, chính sách như đối với quân nhân theo quy định cả pháp luật về cơ yếu. Công nhân, người lao động thuộc các thành phần kinh tế làm việc tại các khu công nghiệp, gồm: công nhân, người lao động làm việc tại khu công, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp (kể cả các cơ sở khai thác, chế biến) của tất cả các ngành, nghề.
Đối tượng bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi độc thân, cô đơn không nơi nương tựa. Học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trường dạy nghề cho xông nhân, không phân biệt công lập hay ngoài công lập. Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện tái định cư mà chưa được bố trí đất ở hoặc nhà ở tái định cư. 6 + Nhà ở xã hội: là một loại hình nhà ở thuộc sở hữu của cơ quan nhà nước hoặc các loại hình nhà được sở hữu và quản lý bởi nhà nước, các tổ chức phi lợi nhuận được xây dựng với mục đích cung cấp nhà ở giá rẻ cho một số đối tượng được ưu tiên trong xã hội như công chức nhà nước chưa có nhà ở, người có thu nhập thấp.
và được cho thuê hoặc cho ở với giá rẻ so với giá thị trường. - Ký túc xá sinh viên + Là những công trình, tòa nhà được xây dựng để dành cho việc giải quyết nhu cầu về chỗ ở, tá túc cho các sinh viên của các trường Đại học, cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp. Những sinh viên ở ký túc xá thường là sinh viên xa nhà, xa quê hoặc gặp hoàn cảnh khó khăn và có nguyện vọng được ở tại ký túc xá, một số ký túc xá dành cho các sinh viên nội trú với thời gian cư trú không lâu dài. Đáp ứng nhu cầu cơ bản trong đời sống của mỗi đối tượng ở.
+ Là khu ở sinh viên, ngoài nhà ở còn có các công trình công cộng phục vụ các nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, hàng tuần, hàng tháng và hàng năm của sinh viên như những cư dân đô thị như ăn uống, y tế, văn hóa- thể thao, vui chơi giải trí, dịch vụ thương mại,… - Tổ chức không gian kiến trúc kí túc xá sinh viên: Là một khái niệm rộng hơn tổ chức không gian kiến trúc hoặc một khu ở sinh viên. Nó là một chuỗi không gian đáp ứng hoạt động ở và sinh hoạt cho sinh viên từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Các không gian này được mở rộng cả về chất và lượng. Có thể phục vụ cho một cá nhân, một nhóm sinh viên, một lớp sinh viên và cả một cộng đồng sinh viên.
Môi trường ở sinh viên tồn tại ở nhiều cấp khác nhau (Hình 1. + Chỗ ở của sinh viên: là cấp độ thấp nhất, nó đáp ứng những yêu cầu cơ bản là chỗ nghỉ ngơi, học tập tối thiểu. + Phòng ở sinh viên: là không gian đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt cho 2- 6 sinh viên. Không gian này gồm không gian riêng (chỗ ở sinh viên) và không gian chung của phòng (khu WC, khu giặt phơi).
7 + Tầng ở sinh viên: Là không gian vừa những đáp ứng nhu cầu sinh hoạt vừa đáp ứng nhu cầu giao tiếp, sinh hoạt văn hóa hay học nhóm ở mức độ cơ bản. Mỗi tầng thường có 1-2 phòng sinh hoạt chung hay phòng tự học. “Mỗi nhà ở học sinh cần có phòng tiếp khách và sinh hoạt chung với diện tích từ 6 đến 48m² tùy theo số lượng học sinh của tòa nhà”.[TCVN 4602- 1988] + Nhà ở sinh viên: Là không gian đáp ứng tiện nghi ở và nhu cầu giải trí, thư giãn của sinh viên. Trong nhà ở có phòng đa năng có thể là không gian giao lưu, xem tivi, đọc sách báo.
ở mức độ tiện nghi cao hơn trong nhà ở sinh viên thường có phòng giặt, sấy, không gian nghỉ ngơi. + Khu ở sinh viên: Bao gồm các không gian vật chất phía trên. Khu ở sinh viên phải được nghiên cứu về sự kết nối không gian hạ tầng và không gian trung tâm của đô thị: vị trí, khoảng cách của khu với trung tâm, tận dụng các công trình công cộng trong đô thị của khu ở. đáp ứng đầy đủ nhu cầu ăn ở, sinh hoạt mỗi cá nhân, tính kinh tế và đáp ứng được nhu cầu kích thích hoạt động giao tiếp gắn kết giữa các sinh viên với nhau, gắn kết hoạt động của sinh viên với đô thị bên ngoài.
KHU Ở NHÀ Ở PHÒNG Ở CHỖ Ở Hình 1. Các cấp độ của môi trường ở - Bên cạnh việc đáp ứng các yêu cầu về công năng trong khu KTX, việc thiết kế QH- KT kí túc xá sinh viên các trường ĐH/CĐ cần đạt các tiêu chí mô hình ký túc xá theo xu hướng nhà ở bền vững: Thích ứng với khí hậu- Thân thiện với môi trường- Hiệu quả về năng lượng- Phù hợp tâm sinh lý người sử dụng.Ngoài ra nên chắt lọc để sử dụng tinh hoa kiến trúc truyền thống của dân tộc, bản địa, đáp ứng 8 đầy đủ nhu cầu về vật chất, tinh thần của sinh viên với các không gian vật chất của môi trường ở. Nhấn mạnh nghiên cứu khả năng liên kết, kết nối giữa các sinh viên trong khu ở và trong khu vực ở của KTX với môi trường bên ngoài. Giai đoạn hiện nay, việc tổ chức không gian kiến trúc cho KTX sinh viên chưa thực hiện đồng bộ.
Với một số trường ở ngoại ô, xa trung tâm thành phố khả năng đáp ứng về vật chất là tương đối tốt (diện tích đất tăng, nhiều cây xanh, khu thể thao, không khí thoáng đãng.) Tuy vậy khả năng đáp ứng về tinh thần lại thấp như: thiếu các công trình văn hóa, không gian sinh hoạt cộng đồng, sự kết nối, giao tiếp với trung tâm đô thị kém. Ngược lại, một số trường trong trong trung tâm thành phố tận dụng được các công trình dịch vụ công cộng có sẵn trong đô thị nên khả năng đáp ứng về nhu cầu văn hóa tinh thần, có sự tương tác giữa kí túc xá sinh viên với đô thị bên ngoài, tăng tiện nghi sống. Nhưng, mô hình này có hạn chế trong việc đáp ứng về cơ sở vật chất do diện tích đất quá chật chội, không đủ chỉ tiêu diện tích nên môi trường ở cũng như khu không gian kiến trúc khu ký túc xá chưa đảm bảo. Nhìn chung, không gian kiến trúc kí túc xá sinh viên tại Hà Nội: Thiếu diện tích xây dựng, xây dựng chắp vá, không đảm bảo chất lượng, tập trung quá nhiều trường ĐH/CĐ gây áp lực cho đô thị.
Trong khi đó nhu cầu tiện nghi ở của sinh viên ngày càng cao. Vì vậy, việc thiết kế KTX sinh viên để phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội, nhu cầu tiện nghi của sinh viên theo xu thế mới là việc cần nghiên cứu cụ thể. Tình hình xây dựng Ký túc xá Sinh viên các trƣờng Đại học/ Cao đẳng trên thế giới 1. Tình hình chung a.
Trước năm 2000: - Vị trí: Các KTX được xây dựng là những tòa nhà đơn lẻ, thấp tầng, được bố trí trong khuôn viên Trường hoặc xa Trường thì được xây dựng gần kề hệ thống giao thông công cộng. - Quy mô ký túc xá: Xu thế tổ chức khu ở SV ở các nước tư bản được thiết kế theo quan điểm tăng điều kiện tiện nghi ở. Các KTX được xây mới hoặc được cải tạo từ các nhà hiện có. Khu ở sinh viên hầu hết chỉ bao gồm các ký túc xá, không 9 xây dựng đồng bộ với các ông trình công cộng và dịch vụ cho khu ở sinh viên.
“Tại các nước phát triển, nhu cầu KTX của sinh viên chỉ chiếm 10% đến 20%, còn lại đa phần thuê ở bên ngoài. Mỗi ký túc xá có sức chứa từ 200-300 sinh viên” [19] - Thẩm mỹ công trình: Tổ chức mặt bằng: công trình thường bố trí hành lang giữa,các không gian công cộng được bố trí ở tầng 1 và tầng 2.2) Tổ chức mặt đứng: Đơn điệu. 2 : Mặt bằng điển hình KTX sinh viên.